Friday, November 7, 2014

Bàn lại vấn đề tác giả “Bình Ngô đại cáo" và “Quân trung từ mệnh tập”

 

Bài liên quan:
Cho đến nay, có lẽ chẳng còn mấy ai không nói và viết rằng: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập đều là những tác phẩm của Nguyễn Trãi. Sự thực, vấn đề tác giả ở đây không thể quan niệm đơn giản như các tác phẩm văn chương khác.
Theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn:“Lê Lợi lên ngôi vua tại điện Kính Thiên...đặt tên nước là Đại Việt, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ, ban lời cáo rằng...”[1]
Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua đã bình được giặc Ngô, bố cáo khắp thiên hạ, lời cáo như sau...”[2]
Như vậy, trong chính văn của các bản chính sử nói trên đều không ghi tên ai là tác giả đích thực bài đại cáo. Riêng sách Đại Việt sử ký toàn thư (NXB Khoa học xã hội-1972) dưới bản dịch bài cáo có chua dòng chữ: (Bài Đại cáo này là do văn thần Nguyễn Trãi soạn). Lời phụ chú này tất nhiên không phải là chính văn, thì, một là sự việc không được chính thức ghi nhận, hai là do người nào đó thêm vào sau khi văn bản chính hoàn thành. Bản thân Nguyễn Trãi chỉ được gọi là “văn thần”, không có chức vụ, tước vị, không phải văn chép sử. Ở đây, chúng ta chú ý chữ “soạn” với chữ “tác”, chữ “tác” với chữ “thuật”. Nếu bài cáo là của Nguyễn Trãi, do Nguyễn Trãi tự làm thì phải dùng thữ “tác” (sáng tác). Chữ “soạn” thường dùng cho loại văn từ hàn, tức là loại văn bản mang tính quốc gia, do Viện Hàn lâm soạn thảo theo lệnh bề trên. Bài Đại cáo bình Ngô trước hết là một văn kiện chính trị, lịch sử, có lẽ vì đậm chất văn chương nên được người soạn sách giáo khoa đưa vào môn văn trường học, coi như một tác phẩm văn học, bởi thế Nguyễn Trãi soạn giả, nghiễm nhiên thành Nguyễn Trãi tác giả! Nói rõ hơn về phương diện chính trị-lịch sử, Đại cáo là lời của Hoàng đế Lê Lợi bố cáo với thiên hạ. Nhà vua chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước thiên hạ về mỗi câu, mỗi chữ trong bài cáo. Nguyễn Trãi giỏi thơ văn, nhưng ông không thảo ra bài cáo với tư cách tác giả, mọi thứ giấy tờ khi được nhà vua phê duyệt thì văn bản ấy thuộc về triều đình, của triều đình, người soạn thảo không còn phải chịu trách nhiệm gì cả. Với Nguyễn Trãi, lúc ấy chức vụ của ông là thừa chỉ. Chữ “thừa chỉ” nói rõ nhiệm vụ của ông là vâng lệnh vua (thừa) soạn thảo giấy tờ (chỉ). Đối với bài Cáo bình Ngô vô cùng quan trọng này, Nguyễn Trãi soạn xong dâng lên, (thực tế có thể đã được sửa chữa, bổ sung nhiều lần theo ý Lê Lợi, trước khi bố cáo-HTC) được Lê Lợi châu phê là thở phào nhẹ nhõm như trút xong gánh nặng, coi như xong phận sự, hết trách nhiệm  Nếu Nguyễn Trãi dám nhận mình là tác giả, sau khi tác phẩm đã tuyên cáo rồi, bị phát hiện hay phê phán có chỗ sai, chữ nào lỗi thì không khỏi mắc tội với triều đình. Cho nên, công việc ấy thuộc về nguyên tắc, soạn giả, không thể thành tác giả. Cho nên, sử sách không ghi chép Chiếu dời đô do ai viết, mà chỉ biết là của Lý Công Uẩn. Đối với các sự kiện chính trị-lịch sử quan trọng khác cũng vậy.
Đi vào nội dung Bình Ngô đại cáo, vận dụng phương pháp nghiên cứu văn bản, chúng ta có thể tìm ra kết luận trong cách so sánh thú vị:
Lê Lợi nói:
“Việc dụng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay ta hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh trả lại đất nước ta, không còn trở lại xâm lấn, thì ta còn cần gì hơn nữa, hà tất phải giết hết để kết mối thù với nước lớn?”[3]
Bình Ngô đại cáo viết:
“Chúng đã sợ chết tham sống mà thực muốn cầu hòa
Ta lấy toàn dân làm cốt mà cho dân được nghỉ.
...Xã tắc do đó được yên
Non sông do đó đổi mới”

Lê Lợi nói:
“Xưa vì họ Hồ vô đạo, cho nên giặc Minh nhân đó mà cướp nước ta, sự tàn ngược tưởng các ngươi đều thấy cả”[4]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Vừa đây họ Hồ chính sự phiền hà
Để đến nỗi nhân tâm oán giận
Giặc Minh thừa dịp làm hại dân ta
...Thui dân đen trên lò bạo ngược...”

Lê Lợi nói:
“Các vị tướng giỏi thời xưa thường bỏ chỗ kiên cố mà đánh vào nơi nứt rạn, lánh chỗ  nhiều, mà đánh chỗ ít...”[5]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ
Lấy ít địch nhiều, hay dùng quân mai phục”

Lê Lợi nói:
“Binh pháp có câu: không cần đánh mà đối phương phải khuất phục. Đó là thượng sách của nhà binh vậy!”[6]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Ta mưu đánh vào lòng, không chiến mà cũng thắng”
Như vậy khá rõ là nhiều ý kiến (lời dụ bảo) của Lê Lợi đã được Nguyễn Trãi (vâng mệnh) đưa vào bài đại cáo một cách khéo léo, tài tình. Cho đến những câu:“Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”, chúng ta tưởng đó là tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi thì cũng là sự khái quát hóa súc tích chủ trương và hành động của Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn. Ví dụ khi bình định châu Trà Long (1424) Lê Lợi ra lệnh các quân sĩ không ai được xâm phạm mảy may của dân, còn các quân địch đều được xá tội hết, không giết một tên nào. Hoặc khi Vương Thông sắp kéo quân về nước, các tướng sĩ và người nước ta vì căm giận nên khuyên vua giết cả. Lê Lợi bảo rằng: trả thù báo oán là thường tình của mọi người, mà không thích giết người là bản tâm của người nhân. Vả lại, người ta đã hàng rồi mà giết thì thì việc bất tường (tức không lành, không phải điều tốt-HTC) không gì bằng. Chi bằng tha mạng cho ức vạn người mà tuyệt mối chiến tranh cho sau này...[7]
Chính Nguyễn Trãi cũng đã từng ca ngợi tư tưởng lớn ấy của hoàng đế Lê Lợi trong các bài thơ, phú chữ Hán của ông như Hạ quy Lam Sơn I, Hạ quy Lam Sơn II, Chí Linh sơn phú...
-Nhân nghĩa duy trì quốc thế an
(Giữ nhân nghĩa để thế nước được yên)
-Đương thời chí dĩ tại thương sinh
(Bấy giờ cái chí vua đã thương dân)
- v.v...[8]
Trong bài đại cáo có một số chỗ chắc chắn nằm ngoài ý nghĩ và quan niệm của Nguyễn Trãi, như đối với họ Hồ, ông coi là bậc anh hùng, nhưng bắt buộc phải nói lời phê phán rất nặng. Chứng cớ là bài Quan hải, ông viết: “Anh hùng di hận kỷ thiên niên” (Anh hùng để hận mấy ngàn năm) nhưng ở Bình Ngô đại cáo, họ Hồ lại bị coi là kẻ có tội phản dân hại nước. Lại nữa, cách gọi Minh thiên tử Trung Hoa bằng những chữ: “Tuyên Đức chi giảo đồng” (thằng nhãi ranh Tuyên Đức) là của Thuận Thiên hoàng đế, không thể nào một chức quan Hàn lâm như thừa chỉ Nguyễn Trãi dám tự ý dùng bừa cho bài đại cáo nghiêm trang...
Trường hợp Quân trung từ mệnh tập cũng có tính chất tương tự.
Quân trung từ mệnh tập còn gọi là Quân trung từ lệnh tập. Ngay ở tên sách (do người sưu tầm đặt) mấy chữ “từ lệnh” hay “từ mệnh” đã chỉ rõ đây là những giấy tờ được soạn thảo theo mệnh lệnh của Bình Định vương Lê Lợi trong thời gian chống giặc Minh. Những thư từ gửi quan tướng nhà Minh, tất nhiên Lê Lợi phải cho nội dung trước để thừa chỉ Nguyễn Trãi nắm được ý đồ mà sai khiến ngòi bút. Đối với quan tướng nhà Minh thâm hiểm, xảo quyệt khó lường trước, có thể nào Lê Lợi lại “khoán trắng” cho Nguyễn Trãi? Hẳn là từng bức thư gửi đi, mỗi giấy tờ giao dịch, phải được soạn thảo dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Lê Lợi. Về phía Nguyễn Trãi, một bậc đại trí, lẽ nào không hiểu cái thế của mình thế nào? Ông là dòng dõi bên ngoại nhà Trần, hai cha con từng làm quan nhà Hồ, được Lê Lợi dùng nhưng chắc đâu đã được tin. Trong văn chương, ông luôn luôn nhắc đến “đạo làm con mấy đạo làm tôi” của mình như để khẳng định (hay thanh minh?) tấm lòng trung hiếu trước sau không hề thay đổi. Nhưng triều Lê có tin ông đâu!
Khi tiến quân vào bao vây thành Đông Đô, Lê Lợi ban lời dụ: “Có bậc văn nhân tài tử nào chưa ra làm quan mà có thể viết thư đưa vào thành Đông Đô, khuyên được tướng tá trong đó mở cửa thành ra hàng hoặc giảng hòa để về nước, sẽ đặc cách trọng dụng ngay”.
Như vậy, ở lĩnh vực “từ lệnh” trong quân, Lê Lợi không chỉ tín nhiệm riêng Nguyễn Trãi, và Nguyễn Trãi cũng không phải là người độc quyền soạn thảo mọi thư từ giao dịch với quân Minh. Mặt khác, Lê Lợi nhằm vào loại “văn nhân tài tử chưa ra làm quan” để kêu gọi, tức là trong đám “văn nhân tài tử” đã ra làm quan không có ai đương nổi việc vô cùng khó khăn ấy. Cho nên Quân trung từ mệnh (do Trần Khắc Kiệm sưu tầm, đời Lê Thánh tông bị thất lạc, gần 400 năm sau, đời Minh Mạng, Thiệu Trị, nhóm Dương Bá Cung mới hợp sức sưu tầm lại) chắc có cả những bài không do Nguyễn Trãi soạn thảo[9]. Hơn nữa, chúng ta không nên đề cao tuyệt đối những gì chỉ có giá trị tương đối. Bấy giờ giặc Minh mưu mô rất xảo quyệt, thái độ rất ngoan cố. Nếu chúng không bị dồn đến chân tường thì thư gọi hàng hay giảng hòa phỏng có tác dụng gì? Mấy lần Vương Thông chẳng nhận giảng hòa rồi lại trở mặt, đó sao? Thuyết phục kẻ địch để đỡ tốn xương máu cũng là phép dụng binh, nhưng quyết định chủ yếu vẫn ở lưỡi gươm ngoài chiến trường, đâu phải văn bản do ngòi bút nơi màn trướng. Nhận định rằng: “Chỉ dùng lời lẽ viết trong thư, Ức Trai tiên sinh đã khuất phục được bọn chúng, bắt buộc vua quan nhà Minh phải giảng hòa với ta”[10] thực là hết sức sai lầm!
Có một thời chúng ta đề cao vai trò lãnh tụ của Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa Lam Sơn mà quên mất lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn là Lê Lợi chứ không phải ai khác. Đầu năm 1428, triều đình Lê định hạng các công thần, gồm 221 người, gồm ba bậc, trong đó không có Nguyễn Trãi. Sau, triều đình mới “lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm quan phục hầu, tư đồ Trần Hãn làm tả tướng quốc, khu mật sứ Phạm Văn Xảo làm thái bảo, đều cho quốc tính” (Đại Việt sử ký toàn thư). Sự thực, quan phục hầu hay tả tướng quốc hay thái bảo đều là hư hàm. Vì thế Trần Hãn, Phạm Văn Xảo sớm bộc lộ thái độ bất mãn, tiêu cực để chuốc lấy tại vạ. Chỉ có Nguyễn Trãi vẫn ôm ấp tấm lòng trung để hơn mười năm sau cũng phải rơi đầu dưới tay bọn đao phủ.
Chức thừa chỉ học sĩ của Nguyễn Trãi là thực vị, vì ông là người làm giấy tờ giỏi. Khi Lê Thánh tông minh oan cho Nguyễn Trãi, cho biết Nguyễn Trãi là một mưu sĩ nơi màn trướng hồi kháng chiến chống quân Minh (không nên lầm mưu sĩ với quân sư). Nhưng nhận định toàn bộ cuộc đời Nguyễn Trãi, Lê Thánh tông ví ông với sao Khuê là khe tài văn chương và tấm lòng trung của Ức Trai. Lê Thánh tông hoàn toàn đúng khi khái quát Nguyễn Trãi như vậy. Đó là cốt lõi làm nên nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi.
Nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi phải có vị trí xứng đáng trong sách giáo khoa. Nhưng Bình Ngô đại cáo và Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi không thể ký tên với tư các tác giả. Cũng không phải cá nhân Lê Lợi, mà là Thuận Thiên hoàng đế, lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn, vị vua “Đại thiên hành hóa” (lời mở đầu bài cáo) mới xứng danh với bài đại cáo. Hoàng đế Lê Lợi đứng tên vào bài đại cáo, một sự kiện lớn lao trong lịch sử, làm vinh quang cho đất nước, cũng làm vẻ vang cho Nguyễn Trãi thừa chỉ. Chắc anh hồn Nguyễn Trãi dưới suối vàng sẽ mãn nguyện khi chúng ta hiểu ông, giúp ông giữ đúng nghĩa vua tôi, đạo thần tử mà sinh thời ông đã coi như một lý tưởng cao quý trong ứng xử (Có lẽ nên ghi: Bài Bình Ngô đại cáo của Thuận Thiên Hoàng đế (Lê Lợi) với chú thích: Nguyễn Trãi với chức trách thừa chỉ vâng soạn theo ý của vua Lê Lợi là đúng đắn nhất).
Đối với Quân trung từ mệnh tập, phải thận trọng và tế nhị hơn. Trong khi chưa xác minh được phần văn bản, có thể tạm coi như thừa chỉ Nguyễn Trãi thảo, nhưng không nên nhắm mắt đề cao. Chỉ có chủ thể của những bức thư ấy, không ai khác ngoài Bình Định vương Lê Lợi: “Bảo mày giặc dữ Phương Chính!” Nếu Lê Lợi không bảo như thế, đời nào Nguyễn Trãi dám viết như thế? Đó chỉ là một ví dụ nhỏ trong trăm ngàn ví dụ. Bởi vậy, chúng ta không thể coi Nguyễn Trãi là “tác giả” Quân trung từ mệnh tập, theo đúng nghĩa chữ tác giả, một chủ thể sáng tạo.[11]
Theo Hoàng Tuấn Phổ
Tuấn Công thư phòng blog
Bài liên quan:

[1] Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[2] Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[3] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[4] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[5] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[6] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[7] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[8] Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi tập
[9] Trường hợp thơ chữ Hán trong Ức Trai di tập cũng vậy, có thể không ít bài không phải của Nguyễn Trãi.
[10] Tựa Ức Trai di tập của Nguyễn Năng Tĩnh (bản dịch của Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm)
[11] Bài viết này đã công bố trên Báo Văn hóa-thông tin Thanh Hóa số ra ngày 26/6/1999 và in lại trong “Trong mắt tôi”-NXB Văn hóa dân tộc-2000. *Nhân đọc bài báo nêu vấn đề “Ai là tác giả “Quân trung từ mệnh” và “Bình Ngô đại cáo” của Cao Sơn Hải (Báo Văn hóa-thông tin 28-4-1999). Tuấn Công thư phòng đăng lại để lưu tư liệu và chia sẻ với những người chưa đọc.


Wednesday, October 22, 2014

Giai thoại Đường thi



Thư pháp của Trần Đại Trung
Trong thời Khai Nguyên, thi nhân Vương Xương Linh (王昌齡), Cao Thích (高適), Vương Chi Hoán (王之渙) đồng nổi danh. Lúc bấy giờ tuy đời sống, hoàn cảnh của mỗi người không giống nhau, nhưng họ vẫn thường đi chơi chung. Một ngày kia, trời lạnh, tuyết rơi nhẹ, ba vị thi nhân cùng đến uống rượu tại Kỳ đình. Bỗng nhiên có các linh quan (con hát) ở Lê viên, độ hơn mười người, cũng lên lầu dự tiệc. Nhân đó, ba vị thi nhân đồng hẹn nhau tránh khỏi bàn ngồi, đến bên lò sưởi để nghe ngóng. Trong chốc lát, có bốn cô ca kỹ lần lượt kéo đến. Các cô đều xa hoa diễm lệ, yêu mỵ quyến rũ. Tất cả tấu nhạc và bắt đầu hát, các bài hát đều là những tác phẩm nổi danh đương thời.

Vương Xương Linh cùng các bạn ước hẹn với nhau rằng: "Bọn chúng ta hiện nay đều là những người có tiếng trên thi đàn, nhưng việc hơn kém chưa định được. Nay cứ lặng nghe các linh quan ngâm thơ ai nhiều thì người ấy chiếm ưu hạng vậy". Trong chốc lát, các linh quan cử nhạc, một cô đào nhịp hát lên rằng:

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
Bình minh tống khách Sở sơn cô.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.[1]

Ban đêm đi vào đất Ngô khi mưa lạnh giăng ngang sông. Sáng mai tiễn khách chỉ có ngọn núi Sở cô quạnh. Nếu bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm, (thì xin anh đáp rằng lòng tôi đã như) một mảnh lòng băng ở trong bầu ngọc.

Thư pháp của Lý Chính Khu
Nghe xong, Vương Xương Linh mỉm cười, đưa tay lên vẽ trên tường một dấu hiệu, nói: "Nhất tuyệt cú!"

Lại có một cô khác ngâm rằng:

Khai khiếp lệ triêm ức,
Kiến quân tiền nhật thư.
Dạ đài hà tịch mịch,
Do thị Tử Vân cư.[2]

Mở hộp ra mà nước mắt ướt đầm trên ngực, tìm thấy bức thư của chàng ngày trước. Chốn dạ đài hiu quạnh biết bao nhiêu, nơi đó vẫn là chỗ ở của chàng Tử Vân (tức Dương Hùng).

Nghe xong, Cao Thích đưa tay lên vách vẽ một vòng, nói: "Nhất tuyệt cú!"

Tiếp đến một cô khác ngâm rằng:

Phụng trửu bình minh kim điện khai,
Tạm tương đoàn phiến cộng bồi hồi.
Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc,
Do đới Chiêu Dương nhật ảnh lai.[3]

Cầm chổi quét vào buổi sáng khi cửa điện vàng mở ra, tạm cầm quạt phe phẩy mà trong lòng bồi hồi. Mặt ngọc còn không bằng cả nhan sắc của con quạ rét, (vì quạ) còn được hưởng ánh nắng mặt trời ở điện Chiêu Dương.

Nghe xong, Vương Xương Linh lại đưa tay lên vẽ lên tường, nói: "Nhị tuyệt cú!"

Ba cô đã ngâm ba bài, toàn là tác phẩm của Vương Xương Linh và Cao Thích. Vương Chi Hoán tự nghĩ rằng thơ của mình nổi danh đã lâu, bèn nói với hai người kia rằng: "Bọn này đều là những nhạc quan không theo kịp thời trang, những bài họ hát đều là ngôn từ quê mùa của Ba Thục. Còn như những khúc hát như Dương xuân bạch tuyết thì bọn phàm tục này dám bàn đến ư?" Nhân đó bèn chỉ vào một trong những ca kỹ đẹp nhất bọn, nói: "Đến lượt cô này hát, nếu như không phải là thơ của ta, ta nhất định không tranh đua với các anh nữa. Còn nếu như đúng là thơ của ta, các anh nên quỳ lại dưới gối ta, tôn ta làm thầy".

Nói xong cả bọn vui vẻ cười đợi. Phút chốc, đến lượt cô đào đẹp nhất bọn, búi tóc song hoàn, cất tiếng hát:

Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian,
Nhất phiến cô thành vạn nhận san.
Khương địch hà tu oán dương liễu,
Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan.[4]

Sông Hoàng Hà chảy vào nơi xa tít trong khoảng mây trắng. Một mảnh thành trơ trọi giữa núi cao muôn nhận (đơn vị đo lường thời xưa, ba thước là một nhận). Sáo Khương đừng thổi bài "Oán dương liễu" nữa, vì gió xuân kia cũng không đưa (tiếng sáo) qua được Ngọc Môn Quan đâu.

Tức thì Vương Chi Hoán biểu lộ sự vui mừng, nói với hai người: "Các anh, ta nói có sai đâu!" Nhân đó bèn cả cười. Các linh quan không rõ đầu đuôi, đều hỏi: "Chẳng hay chư vị vui cười chuyện gì thế?"

Vương Xương Linh và các bạn liền thuật rõ mọi việc. Các linh quan đồng thưa rằng: "Bọn tục nhân chúng tôi không nhận ra được bậc thần viên, cúi xin được muôn vàn thanh trọng!" Xong tất cả đều ngồi vào bàn tiệc uống say nằm đến sáng.

Chú thích của Chuyện phố



[1] Nguyên tác:
芙蓉樓送辛漸
寒雨連江夜入吳,
平明送客楚山孤。
洛陽親友如相問,
一片冰心在玉壺。
[2] Nguyên tác:
哭單父梁九少府
開篋淚沾臆,
見君前日書。
夜臺何寂寞,
猶是子雲居。
[3] Nguyên tác:
長信秋詞
奉帚平明金殿開,
且將團扇共徘徊。
玉顏不及寒鴉色,
猶帶昭陽日影來。
[4] Nguyên tác:
出塞-涼州詞
黃河遠上白雲間,
一片孤城萬仞山。
羌笛何須怨楊柳,
春風不度玉門關。


Tuesday, October 21, 2014

Đọc Phong Kiều dạ bạc



Bảo rằng Phong kiều dạ bạc[1] của Zhang Ji (Trương Kế) là tuyệt phẩm thi ca dĩ nhiên rất thừa. Chuyện kể rằng xưa kia, Zhang tiên sinh viết bài này khi ông trên đường về quê sau lần thi hỏng. Vậy nên, xuyên suốt bài thơ là cảm giác mênh mông buồn.

Từ khi ra đời đến nay, có lẽ bài thơ đã được hàng trăm, hàng ngàn người dịch. Có người dịch một bản, có người dịch nhiều bản. Có người sử dụng thể lục bát, có người cố giữ nguyên thất ngôn tứ tuyệt, lại có người phóng tác thành 8 câu lục bát như vị Ngọc Động sư huynh[2] trên www.thivien.net.

Bản dịch theo thể lục bát thành công nhất lâu nay được cho là bản của cụ Nguyễn Hàm Ninh.

"Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San."

Dịch tiếng nước ngoài ra tiếng ta đã là một thử thách cam go rồi. Dịch thơ còn cam go gấp bội phần. Nhất là dịch từ những ngôn ngữ súc tích như tiếng Hán. Vậy nên, bản dịch của cụ Nguyễn tuy hay mà vẫn chưa mỹ mãn.

Ngay câu đầu tiên
- khai, tiên sinh đã hạ một chữ "lạc" vô cùng đắt. "Nguyệt lạc", "lạc" là rơi nhưng không phải rơi đánh sầm phát như kiểu buông tay chày rơi xuống cối, cũng chẳng phải từ từ xế đỉnh non đoài. Lặn từ từ như thế e cũng tầm thường lắm lắm. Là lặn, là rơi đấy nhưng lãng đãng, phiêu bồng. Văn học China có câu: "Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu [梧桐一葉落, 天下共知秋]" – Tạm dịch: Ngô đồng rơi chiếc lá, thiên hạ ô kìa thu. Lá ngô đồng vốn to, khi rơi xuống, gặp luồng khí nóng phía dưới bốc lên thì chiếc lá không rơi thẳng được, cũng không rơi nhanh được mà nó chao qua, lượn lại, la đà thinh không rồi nhẹ nhàng đáp xuống. "Lạc" tinh tế đến dường ấy cơ mà. Trong văn học Việt, nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng đã từng miêu tả cái sự rơi tinh tế không kém: "Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng". Nhưng cụ Zhang hơn ở chỗ cụ dùng đúng một chữ.
 
Lại nói đến hai chữ tiếp theo "Ô đề".
Đơn giản là quạ kêu, thế thôi. Nhưng trong cảnh nàng nguyệt la đà như thế, màn sương bàng bạc giăng trên bến thuyền như thế, cộng thêm khung cảnh tâm trạng như ở câu thừa (mà ta sẽ nói đến sau) thì cái tiếng quạ kêu đêm vắng ấy nó vừa thê lương, vừa thảng thốt. Buồn tênh những buồn! Cái khó ở chỗ, khi chuyển ngữ tiếng Việt, ta buộc phải chọn một trong số những "trăng lặn, trăng xế, trăng tà, trăng tàn, trăng xuống". Chấm hết! Lặn - xế - tà - tàn - xuống và xem như có cả “rơi” nữa đi thì vẫn không anh nào đượm tình bảng lãng như chữ "lạc". Mà một khi trăng không đượm tình, không phiêu lãng nữa thì tiếng quạ - dẫu có là hót đi chăng nữa - cũng chỉ là tiếng động khô khốc, thiếu trữ tình. Để dùng bảy chữ hoặc sáu chữ Việt mà mô tả được cảnh, được tình như bản gốc dường như là không thể nên cụ Nguyễn đành phải hy sinh đi một điều - ấy là cảnh sương giăng đầy trời. Cụ viết: Trăng tà chiếc quạ kêu sương. Chữ "chiếc" của cụ Nguyễn cũng là một chữ đắt. Chiếc là đơn độc, là cô lẻ. Nhờ chữ "chiếc" chứa đựng đầy tâm tư đó mà cảnh "trăng tà" của cụ bớt đơn điệu. Tiếc thay "chiếc quạ kêu sương" của cụ vẫn chỉ mới là quạ kêu trong đêm mà không thấy sương đâu. Hoặc giả có đi chăng nữa thì cũng không nhiều, không giăng kín trời, không se se lạnh, không tê tái lòng. Tuy vậy ở câu khai, bản dịch của cụ Nguyễn vẫn là vô địch thiên hạ.

Sang câu hai – thừa: Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên.
Cái khó của câu này nằm ở hai nơi. Một là "phong", thứ cây ở ta không có. Tiếng Việt của ta mượn luôn âm Hán-Việt để chỉ loài cây này. Nhưng nếu để nguyên là phong thì một là dễ bị nhầm thành gió, hai là chẳng biết phải dịch chữ "giang" thành từ gì. Cấu trúc tổ hợp từ tiếng Việt không có phép dùng "sông phong/phong sông" để mô tả cây phong mọc cạnh bờ nước. Vậy nên, đa phần các dịch giả lựa chọn hoặc là "cây bến" hoặc là "cây bãi". Cũng như táo khuyết là biểu tượng của Apple, phong là loài cây mặc định cho mùa thu. Đánh rơi chữ “phong” là đánh rơi mùa thu. Vậy mà đấy chưa phải là chỗ khó nhất. Khó nhất phải kể là chữ "đối". Thử tưởng tượng anh học trò thi hỏng, nằm trên thuyền ở một bến sông lạ. Buồn, giấc ngủ chập chờn. Anh học trò nằm khoèo trên sạp thuyền nhìn mông lung. Đêm thì sâu thẳm, phía nọ bóng cây phong mờ ảo, đằng kia là ánh lửa leo lắt của một chiếc thuyền chài nào đó. Cứ thế, cứ nhìn nhau thế - phong - lửa - học trò - lửa - học trò - phong. Chẳng có gì để nghĩ nữa, thi rồi và hỏng rồi còn đâu. Chắc rằng, cảm giác sầu muộn có lẽ phải chất ngất đến thiên thu vạn tải. Mà tất cả cảm xúc đó đều nằm ở chữ "đối". Buồn - đối - buồn - đối - buồn! Chỉ một chữ "đối" mà Zhang lão tiền bối đã gieo tình vào vật, làm cho nỗi buồn vừa lan tỏa, vừa cộng hưởng. Khó thế, nên đến đây, cụ Nguyễn đành để rơi ngôi vô địch vào tay Nữ sĩ Bạch Liên với câu: “Đèn chài cây bến buồn lan khách đò”. Vì chưng, câu "Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ" của cụ vừa đánh rơi mất cây phong, vừa làm sai lạc ý tứ của câu. "Giấc hồ" hay "mộng hồ điệp" chủ yếu mang tính triết học, ta là bướm hay bướm là ta - là sự băn khoăn mà hàng ngàn năm nay chúng ta luôn tìm cách lý giải mà chưa được chứ hoàn toàn không dùng để tả sự buồn.

Hai câu cuối thì không có chữ nào khó đến mức đấy nhưng không hiểu sao gần như tất cả các bản dịch khá và hay đều dùng “bến Cô Tô” ở câu ba. Trong khi đó, ngay từ nhan đề, Zhang tiên sinh đã chỉ rõ là Phong Kiều dạ bạc, tạm dịch: Đêm buông neo ở bến Phong Kiều. Cô Tô vốn là tên ngôi thành được xây từ thời Xuân Thu dưới đời nhà Ngô. Ngoài Cô Tô, nó còn có tên Tô Châu, Bình Giang Hạ, Ngô Hạ, Cối Kê v.v. Tóm lại Cô Tô dứt khoát không phải tên bến thuyền. Câu bốn - hợp - lại có sự lạ nữa. Ấy là nhiều dịch giả thống nhất dùng chữ “nghe” để dịch chữ “đáo”, tức là chuyển một động thái chủ động của tiếng chuông chùa thành động thái thụ động. Khi mô tả một người nghe tiếng chuông (Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San - NHN) thì đương nhiên người đó đang tỉnh. “Đáo” trong tiếng Hán là động từ mang nghĩa “đến, đi”. “Đáo” hay ở chỗ nhờ tiếng chuông vẳng đến mà anh học trò đang chìm trong sầu muộn ấy giật mình tỉnh lại. Tác giả ắt là rất tinh tế khi sử dụng một âm thanh mang tính thanh lọc và từ bi để đánh thức chàng học trò. Ừ thì hỏng thi, ừ thì buồn bã. Nhưng thôi, tỉnh lại đi, đời còn dài, thua keo này bày keo khác chẳng phải hơn sao!

Vậy nên, nếu được phép, tôi sẽ giới thiệu bản dịch của Bạch Liên nữ sĩ cho câu hợp:

Quạ kêu, sương đổ, trăng tàn
Đèn chài, cây bến buồn lan khách đò
Hàn Sơn chùa nẻo Cô Tô
Nửa đêm chuông vọng đến bờ thuyền ai.

Nhưng mà, cũng như Phật pháp vốn là để ngộ, thơ vốn là để cảm. Chẳng phải ngâm thơ là để chia sẻ tiếng lòng của thi sĩ đấy sao.

Phạm Bằng Tiến




[1] Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

[2] "Quạ kêu, sương phủ đầy trời
Trăng tàn ru giấc mộng đời vấn vương
Bên sông, phong rũ... đượm buồn
Lửa chài hiu hắt... mộng trường cùng mơ
Thuyền người xuôi hướng Cô Tô
Nửa đêm thuyền ngoại dật dờ tiếng chuông
Hàn San đây bóng tự đường
Vẳng âm tiếng vọng vô thường thinh không ..."

Monday, July 7, 2014

Cái "gia gia" chẳng là ... cái gì cả


Chúng tôi không bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.
Hai câu 5 và 6 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan vẫn được các nhà nghiên cứu và các nhà biên soạn có uy tín ghi là:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Nhưng gần đây ở trên mạng, có nhiều trang lại ghi chữ thứ sáu và chữ thứ bảy của câu 6 thành “da da”. Vì vậy nên đã phát sinh vấn đề: phải viết hai chữ này với d- (“da da”) hay gi- (“gia gia”) thì mới đúng?
Xin khẳng định ngay một cách dứt khoát rằng nếu viết với gi- thành “gia gia” thì “cái gia gia” sẽ là một cấu trúc hoàn toàn vô nghĩa. Các nhà có uy tín kia đã không biết, hoặc ít nhất cũng không để ý, rằng ba tiếng cuối của câu 5 (con X X) và ba tiếng cuối của câu 6 (cái Y Y) trong bài thơ tạo thành hai ngữ danh từ chỉ hai giống chim chứ hai tiếng cuối của mỗi câu (mà họ viết thành “quốc quốc” và “gia gia”) tuyệt đối không phải là những từ tượng thanh (onomatopoeia). Ở đây Bà Huyện nói về hai giống chim, như ai nấy đều có thể biết một cách hoàn toàn dễ dàng và tự nhiên: con trong câu 5 thì đau lòng vì nhớ nước còn con trong câu 6 thì mỏi miệng vì thương nhà. Vậy thì con trong câu 6 là con gì? Thưa đó là  con đa đa và chính vì đây là con đa đa nên chúng tôi xin trả lời rằng nếu bất đắc dĩ phải chọn lựa giữa “gia gia” và “da da” thì chúng tôi sẽ chọn cách viết thứ hai vì những lý do sau đây:
Ngữ âm học lịch sử đã cho phép khẳng định rằng trong một số trường hợp nhất định thì Đ [d] và D[z] từng có chung một nguồn gốc (Xin x., chẳng hạn, Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1995, tr. 63; hoặc Lê Văn Quán, Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, tr.105). Chính vì thế nên cho đến hiện nay, ta vẫn còn thấy được những lưu tích về mối tương ứng “Đ ~ D” giữa phương ngữ miền Bắc với phương ngữ miền Nam hoặc giữa phương ngữ Bắc Trung bộ với ngôn ngữ toàn dân. Cái đĩa ở miền Bắc là cái dĩa ở trong Nam; còn cây da ở trong Nam thì miền Bắc lại  gọi là cây đa. Đặc biệt, cái bánh đa ở ngoài Bắc đã từng được gọi là bánh da ở trong Nam (còn bây giờ đã được thay bằng “bánh tráng”). Bằng chứng sớm nhất mà ta có thể có được về cách gọi này ở trong Nam là mục từ “bánh da” trong Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine, rồi sau đó là mục từ cùng tên, trong quyển từ điển cũng cùng tên (1838) của J.L. Taberd. Nhưng có lẽ lại càng đầy tính thuyết phục hơn nữa là cho đến 1895, Huình- Tịnh Paulus Của vẫn còn giảng trong Đại Nam quấc âm tự vị, tome I: “Bánh da: Bánh tráng.”
Trở lên là nói về mối quan hệ “Đ (Bắc) ~ D (Nam)”. Còn về quan hệ giữa Đ của Bắc Trung bộ với D của tiếng Việt toàn dân thì ta cũng có thể tìm thấy trong Phương ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) rất nhiều dẫn chứng: - đa đẻ ~ da dẻ, - (màu) đà ~ (màu) dà, - đạ đày ~ dạ dày, - đám ~ dám (trong dám nghĩ dám làm), - đao ~ (con) dao, - đày ~ dày (trong dày mỏng), v.v..
Trở lại với mối tương ứng “Đ (Bắc) ~ D (Nam)”, ta đã có “đa (Bắc) ~ da (Nam)” đến hai lần, một lần với tên của một giống thực vật, một lần với tên của một loại thực phẩm. Nguồn gốc chung của hai cách phát âm này đã tồn tại trong Từ điển Việt – Bồ – La (Roma, 1651) của Alexandre de Rhodes. Trong quyển từ điển lấy tiếng Đàng Ngoài làm nền tảng này,  cả da trong da thịt lẫn đa trong cây đa (của miền Bắc) đều được ghi là dea. Vậy nếu mượn cách ghi của A. de Rhodes làm ký hiệu, ta có thể nói rằng trước 1651 thì, đối với những từ đang xét, tiền thân của Đ và D đều là DE. Chính vì mối quan hệ này giữa Đ và D nên chúng tôi mới chủ trương viết da da (chứ không phải “gia gia”) để ghi tên con đa đa, nếu bất đắc dĩ phải lựa chọn. Nhưng với chúng tôi thì chữ của Bà Huyện Thanh Quan cũng không phải “da da” mà hẳn hoi là đa đa. Và hai câu thơ đang xét trong bài Qua đèo Ngang là:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái đa đa.
Chúng tôi chủ trương như trên, còn bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh thì không tán thành nên đã viết trên Hồn Việt 18 (12-2008) như sau:
“Tôi không đồng ý vì tuy bà (Huyện Thanh Quan - AC) người miền Bắc nhưng chắc gì bà biết hết tên các loài chim để mà đổi “da da” thành “đa đa”, theo phát âm của người miền Bắc? Bà đi qua Đèo Ngang nghe tiếng chim hót thì hỏi dân địa phương, người ta bảo là “da da” thì bà gọi theo là “da da” chứ bà không biết quốc ngữ cũng không học ngôn ngữ học nên không thể biết “d” và “đ” cùng một gốc. Mặt khác,  bà thành thạo làm thơ thất ngôn bát cú có đối chọi nên có thể đã “chơi chữ” với cách phát âm tên hai loài chim, “quốc” hay “cuốc”, “da” hay “gia” bà không phân biệt được.” (tr.61).
Xin trân trọng thưa lại với bà Chân Quỳnh như sau. Xưa nay, khắp nước Việt Nam, không có địa phương nào gọi con đa đa, còn có tên là gà gô, bằng cái tên “da da” cả. Từ điển Việt- Bồ- La (1651) của A. de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng, rồi phương ngữ Bắc Trung Bộ là nơi còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa, đều ghi hoặc gọi là đa đa. Tiếng Nguồn ở Quảng Bình, một ngôn ngữ cùng gốc (Việt-Mường) với tiếng Việt (Kinh), cũng gọi giống chim này là đa đa. Đây là một bằng chứng chắc chắn để phủ nhận hai tiếng/chữ “da da”. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là ai cũng biết, tuy về hình thức, Qua đèo Ngang có những câu thơ tả cảnh nhưng thực chất đây là một bài thơ trữ tình. Làm thơ trữ tình thì “rút gan rút ruột” ra mà làm chứ còn đợi đi hỏi ai. Điểm thứ ba là, không riêng gì Bà Huyện, mà cả ông bà ta ngày xưa nữa, tuy không biết chữ quốc ngữ, cũng không học “ngôn ngữ học”, nhưng vẫn có cách để phân biệt d- với gi-, d- với r-, ch- với tr-, v.v., trong khi sáng tạo chữ Nôm. Đó là ngôn ngữ học “tự nhiên nhi nhiên” của họ đấy! Điểm thứ tư là con cuốc cuốc và cái đa đa, theo cách hiểu và cách ghi của chúng tôi, cũng rất “đối chọi” theo đúng luật thơ Đường chứ đâu phải là không. Đối nhau chan chát ấy đi chứ! Và cuối cùng là tuy Bà Huyện có quyền “chơi chữ” nhưng bà không được quyền bóp méo từ ngữ: cái đa đa là cái đa đa, chứ dứt khoát không thể thành “cái da da”, càng không thể là “cái gia gia”.
Tiếp theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh, trên Hồn Việt 19 (01-2009), ta lại thấy xuất hiện ý kiến của ông Nguyễn Quảng Tuân với lời dẫn của ban biên tập: “Học giả An Chi (…) bằng vốn kiến thức ngữ học uyên bác của mình, đã bàn về gia gia - quốc quốc. Nhưng đây không phải là chuyện ngữ âm học lịch sử thuần tuý, mà là thơ, lại là thơ luật Đường… nên học giả Nguyễn Quảng Tuân đưa ra một cách tiếp cận khác.” Vậy đâu là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân? Ông chẳng đưa ra cách tiếp cận nào khác của riêng mình cả. Ông chỉ dẫn ra ý kiến của Nguyễn Văn Ngọc trong Nam thi hợp tuyển và của Lý Văn Hùng trong Việt Nam văn chương trích diễm (Sài Gòn, 1961) rồi kết luận: “Chúng tôi nhận thấy, như mọi người từ trước đến nay, kể cả các vị có uy tín, đều cho rằng “quốc quốc” và “gia gia” chỉ là một cách chơi chữ thôi nên hai câu luận trong bài Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan nên chép là:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
cho thích hợp với ý văn và phép đối trong câu thơ thất ngôn bát cú.”
Trở lên là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân còn dưới đây là nhận xét của chúng tôi, trước nhất là về phần ông trích dẫn Lý Văn Hùng, đặc biệt là về lời dịch của họ Lý đối với hai câu thơ đang xét. Hai câu này đã được Lý Văn Hùng dịch thành:
Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia.
Dụng ý của ông Nguyễn Quảng Tuân là dựa vào mấy tiếng “gia gia” của họ Lý để củng cố cho cách chép mà ông đưa ra trong phần kết luận. Nhưng ông đã nhầm. Hai cấu trúc con quốc quốc và cái gia gia (Xin cứ tạm chép như thế) trong lời thơ của Bà Huyện là những ngữ danh từ, trong đó quốc quốc và gia gia là danh từ (vì là tên của hai giống chim), còn hai cấu trúc hô quốc quốc và khiếu gia gia trong lời dịch của Lý Văn Hùng là những ngữ vị từ, trong đó quốc quốc và gia gia là từ tượng thanh. Hai bên đã khác nhau một trời một vực như thế mà ông lại muốn lấy hai tiếng tượng thanh gia gia để chứng minh cho sự đúng đắn(?) của danh từ “gia gia” trong câu thơ tiếng Việt sao được? Việc ông Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn Lý Văn Hùng ở đây là một việc làm không thích hợp vì hoàn toàn không có tác dụng “làm chứng” cho hai tiếng “gia gia” (tiếng Việt) mà ông chủ trương.
Còn việc trích dẫn Nguyễn Văn Ngọc thì sao? Cũng chẳng có giá trị gì hơn vì tác giả này cũng chỉ diễn giảng trên cơ sở của hai tiếng “gia gia” là hai tiếng mà chính chúng tôi đang phản bác. Chỉ khi nào Nguyễn Văn Ngọc chứng minh được rằng “gia gia” là một cái tên có thật của một giống chim và là một hình thức chính tả chuẩn dùng để ghi cái tên đó thì chừng đó những lời diễn giảng của ông may ra mới có giá trị. Xin nói cho rõ thêm một chút nữa như sau. Chỉ khi nào chỉ với hình thức chính tả “gia gia” mà tác giả vừa chỉ được giống chim cần nói đến, lại vừa chỉ được khái niệm “nhà cửa”, “gia đình” thì chừng đó ta mới thực sự có hiện tượng chơi chữ. Đằng này… người ta phải bóp méo từ ngữ để cho có thể có được một cái âm với một cách ghi gợi lên cái ý “nhà” thì chơi chữ là chơi… như thế nào? Cách ghi méo mó này không có bất cứ lý do ngữ học và văn cảnh nào để tồn tại cả. Chẳng qua vì nó đã lưu hành ngót nghét hằng thế kỷ nên nhiều người mới không đành lòng gạt bỏ đó mà thôi. Nhưng cũng có người không cần biết đến nó mà cứ ghi thẳng hai chữ đa đa vào câu thơ của Bà Huyện, chẳng hạn GS Đỗ Quang Vinh trên www.khoahoc.net (ngày 26.4.2007). Các nhà có uy tín kia đã bị cái thế đối “quốc quốc - gia gia” mơn trớn và ru ngủ nên cũng chẳng cần biết rằng từ vựng tiếng Việt không hề có danh từ “gia gia” với tính cách là tên của một giống chim mà hệ động vật của Việt Nam cũng chẳng có giống chim nào tên là “gia gia”. Tóm lại, ta tuyệt đối không thể có “ý văn” hay nếu nó được diễn giảng từ những từ ngữ bị bóp méo. Chơi chữ mà lại bóp méo từ ngữ thì còn chơi cái gì?
Cuối cùng xin nói cho rõ ràng rằng chúng tôi đã không hề bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có một mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.
An Chi

Nguồn: VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG ĐƯƠNG THỜI, Từ chữ đến nghĩa số 2/2009

Về “cái gia gia” trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan


Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ "Qua đèo Ngang" là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ "cái gia gia"[1].
Sự tranh luận này có chiều hướng phủ nhận quan điểm cũ của các tiền bối cũng như những người tin theo họ để bảo vệ cho cách đọc "cái đa đa". Thế nhưng, theo chúng tôi, tranh luận đã không đi đến tiến bộ và sự thật với các bằng chứng có giá trị thuyết phục mà ngược lại đã gây ra nhiễu loạn về học thuật, làm mất cảm hứng cho người yêu thơ và gây hoang mang cho sự học tập, giảng dạy của thầy và trò.
Bài viết này là một cố gắng tìm hiểu lại vấn đề một cách khách quan trên tinh thần khoa học với các chứng cứ xác đáng. Hy vọng có thể trả lại giá trị nghệ thuật và ý nghĩa vốn có của những vần thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan.
I. "Gia gia" và văn bản chữ quốc ngữ
"Cái gia gia" trong câu thơ thứ 6 ở bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan được phiên âm và viết chữ quốc ngữ sớm nhất có lẽ là từ tác giả Phạm Quỳnh, 1917[2] và sau đó đến các nhà nghiên cứu văn học khác như Tuyết Trang Trần Văn Ngoạn, 1918[3]; Trần Trung Viên, 1925 - 1930[4]; Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, 1927[5]; Georges Cordier, 1933[6]; Ngô Tất Tố, 1941[7]; Dương Quảng Hàm, 1941[8]; Hạo Nhiên Nghiêm Toản, 1949[9]; Trần Trọng Kim, 1946[10]; Nguyễn Tường Phượng, 1953[11] và các nhà khác cho đến nay cũng vẫn là "cái gia gia".
Về ý nghĩa "cái gia gia", cụ Nguyễn Văn Ngọc, lần đầu tiên đã chú giải tường tận: "Gia gia = đáng lẽ cũng viết da da, hay đa đa; chỉ một giống chim thuộc về loài gà, loài công, lông đỏ, trắng, xám, hay đen, ở những nơi quang đãng, không đậu trên cành cây bao giờ và người ta hay săn bắn, mới đúng, nhưng cũng vì đây tuy mượn đến con da da mà thực ý lại nói đến gia ăn với chữ quốc ở trên và nghĩa là nhà". Như vậy, theo đó "gia gia" chính là "da da", một biến âm dân gian của "đa đa" nhưng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, "da da" phải đọc là "gia gia" (nhà) để ứng đối với "quốc quốc" ở câu trên vì cụ Ôn Như cũng đã giảng về "quốc quốc" ở câu thơ thứ 5: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc" như sau: "Đáng lẽ viết cuốc cuốc, nhưng vì đây tuy mượn đến con cuốc mà thực ý lại nói đến quốc nghĩa là nước. Ngô Tất Tố còn trích thơ của di thần đời Lê là Trần Danh Án: "鷓 鴣 鳴 家 家, 杜 鵑 鳴 國 國, 微 禽 尚 有 國 家 聲, 孤 臣 對 此 情 難 極, Gia cô minh "gia gia", Đỗ Quyên minh "quốc quốc", Vi cầm thượng hữu" quốc" "gia", thanh. Cô thần đối thử tình nan cực" (Gà gô kêu gia gia, con cuốc kêu quốc quốc, loài chim nhỏ còn có tiếng kêu "quốc" "gia", kẻ bề tôi chơ vơ đối với những tiếng ấy đau lòng khôn xiết" và cho là có thể Bà Huyện Thanh Quan đã chịu ảnh hưởng "minh quốc quốc", "minh gia gia" để viết thành "con quốc quốc" và "cái gia gia". Các nhà khác về sau, nói chung đều cũng hiểu ngay "gia gia" là nói đến loài chim đa đa hay gà gô, tên chữ Hán là giá cô 鷓鴣.
Tóm lại, 2 chữ cuối của câu thơ thứ 6 trong bài thơ Qua đèo Ngang, từ trước đến nay đều được đa số các nhà nghiên cứu đọc hiểu là "gia gia" ám chỉ con chim đa đa và cũng liên tưởng đến ý niệm "nhà" như một thủ pháp "chơi chữ" trong thơ ca. Nhưng một số nghi vấn có thể nảy sinh từ đó: Tại sao chỉ là "gia gia" mà không phải là "da da" hay "đa đa"? Liệu có một dị bản nào khác thay cho "gia gia"?
II. "Gia gia" và văn bản chữ Nôm
Trong tất cả các sách báo viết về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (kể các các bài tranh luận gần đây), điều đáng tiếc là thiếu vắng bản Nôm gốc (dù là truyền bản) để làm bằng chứng khi luận giải, nguyên nhân có thể là do trở ngại về việc in chữ Nôm hay thói quen xem thường bản gốc và cũng vì việc tìm đọc các văn bản Hán Nôm quý hiếm (lại không được sao chụp, in ra để phổ biến) rất khó khăn. Dù vậy, thông qua các tài liệu quốc ngữ xưa nay do các nhà nghiên cứu uy tín về văn học Hán Nôm biên soạn, ta nhận thấy không một tác giả nào đã đưa ra một dị bản nào khác ngoài "gia gia". Tuy nhiên Thanh Nghị, 1967[12] có thể là người đầu tiên đọc là "đa đa" thay vì "gia gia": "Thương nhà mỏi miệng cái đa đa" nhưng lại không cho biết nguồn trích dẫn, có thể là ông tự suy đoán theo tri thức riêng mình. Rồi mới gần đây An Chi cũng tin tưởng và quả quyết cách đọc "đa đa"[13] là đúng nhưng lại cũng không đưa ra được bằng chứng về chữ Nôm, một thiếu sót quan trọng khi nghiên cứu, bàn luận. Nhưng cách đọc "đa đa" liệu có đúng theo văn bản chữ Nôm nào đó không? Theo PGS. TS Đỗ Thị Hảo[14], những bài thơ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan có chép rải rác trong 5 văn bản: 1. Liệt truyện thi ngâm, AB.147; 2. Quốc âm thi tập, AB.649; Thi ca quốc âm tạp lục, VHv.266; Quốc văn tùng thư, VHv.2248; Quốc văn tùng ký, AB.383, Đỗ Thị Hảo cho biết trong 5 văn bản này, chỉ có bản AB.383 là đáng tin cậy còn các bản khác đều chép tùy tiện, chữ có nhiều dị biệt. Bản Quốc văn tùng ký do Nguyễn Văn San tự là Vân Sơn tên hiệu là Hải Châu Tử biên soạn, ông là người sống cùng thời với Bà Huyện Thanh Quan. Các bài thơ này được Đỗ Thị Hảo khảo cứu với phương pháp: "...mỗi bài thơ chúng tôi sẽ so sánh, đối chiếu những dị biệt ở từng câu chữ với những bài thơ đã từng được công bố trước đây" và bài Qua đèo Ngang đã được Đỗ Thị Hảo phiên âm và chú thích cẩn thận, đáng chú ý là có kèm theo chữ Nôm, tuy nhiên, đây không phải chữ Nôm gốc nhưng lại là font vi tính nên không biết có thật chính xác? Câu thứ 6 như sau: "Thương nhà mỏi miệng cái gia gia", hai chữ "gia gia" được ghi là 家家. Chúng tôi đã tìm thấy bản chép tay văn bản Quốc văn tùng ký 國文 叢 記 AB.383 từ thư viện gia đình của Maurice Durand[15], phần Phụ Nhàn Khanh thi tập 附 嫻 卿 詩 集 có chép bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan và 2 chữ cuối câu thứ sáu được chép chữ Nôm là [家鳥], người chép tay đã phiên Nôm là "gia gia". Chữ Nôm có phần biểu âm là gia 家 và phần biểu ý là điểu 鳥. Chữ Nôm trong sách của Đỗ Thị Hảo và của Maurice Durand tuy khác nhau nhưng dù sao phần thanh phù vẫn chỉ là gia 家 và từ âm gia chỉ có thể đọc là da hay gia mà thôi, không thể đọc ra "đa" được. Cụ Trần Văn Kiệm[16] cũng đã từng dẫn ra chữ 2 chữ Nôm [家鳥] và [加 鳥] (thanh phù gia) và đọc là "gia" (mỏi miệng cái gia gia). Chúng tôi đã tra cứu trong các bộ tự điển chữ Nôm loại lớn như Đại tự điển chữ Nôm (Vũ Văn Kính)[17], Tự điển chữ Nôm[18] (Nguyễn Quang Hồng), Tự điển chữ Nôm trích dẫn[19] (Viện Việt Học) thì thấy âm "gia" được viết bằng chữ Nôm như 家, 加, 耶, 茄, 嘉, 傢, 痂, 椰, 跏, 葭, 瘕, 爺 (thanh phù gia, già, da)... và âm "đa" được ký âm bằng đa 多,爹, 栘, [飠它] (thanh phù đa, đà). Riêng chữ 枷, tự điển Nguyễn Quang Hồng cho là có âm đa (trong cây đa) nhưng theo chúng tôi thanh phù gia phải đọc là "da" mới đúng âm xưa. Thật ra xưa là cây "da" (= cây đa) như tự vị của P. Béhaine (1772 - 73)[20], Huỳnh Tịnh Của[21] (1895 - 96) đã ghi nhận và viết Nôm là 椰 (da), đến tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức[22] (1931) mới ghi nhận cây da = cây đa. Như thế, cách đọc "đa đa" của Thanh Nghị và An Chi không xác đáng vì thiếu chứng cứ văn bản cũng như về phép đọc chữ Nôm, cho đến nay chưa phát hiện ra một dị bản nào chép chữ Nôm là 多 hay [鳥 多] và dĩ nhiên như trên đã nói, [家鳥], 家 trong bản AB.383 (và các bản khác) không thể đọc ra "đa đa".
III. "Gia gia" và tiếng kêu của chim giá cô (đa đa)
Tên gọi tiếng Việt của loài chim giá cô 鷓鴣 xuất hiện sớm nhất trong tự điển Việt - Bồ - La (1651)[23] của Đắc Lộ [Alexandro de Rhodes] với tên gọi là chim "đa đa" và từ đó về sau hầu hết các tự điển, tự vị quốc ngữ đều chỉ ghi nhận "đa đa". Về chữ Nôm của tên gọi loài chim "đa đa", trong các văn bản Nôm như Tam thiên tự[24], Ngũ thiên tự[25], Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca[26], Đại Nam quốc ngữ[27] và các tự vị, tự điển của P. Béhaine, Huỳnh Tịnh Của, J.F.M. Génibrel[28]... đều ký âm là 多多, không có tự dạng nào khác nữa. Hiện vẫn chưa tìm ra tài liệu nào ghi nhận chim đa đa còn gọi là da da hay gia gia nhưng vì các tự vị, tự điển xưa không thể thâu thập hết tiếng Việt nên không biết đến và rất có thể trong dân gian (ở địa phương nào đó) đã từng gọi tên như vậy? Tiếng Việt (hay trong phương ngữ miền Trung) từng có sự biến đổi qua lại giữa D và Đ như đao/dao; đĩa/dĩa; da/đa... vậy khả năng đa đa có thể được nói là da da như cụ Nguyễn Văn Ngọc đã giảng? Nguyễn Ngọc San[29] giải thích về "gia gia": "Đây là cách chơi chữ của tác giả. GIA GIA là đa đa, giống gà nhỏ sống ở ven rừng (...) Đa đa có thể biến âm thành DA DA, giống như các trường hợp sau:
Đình → Dừng
Đao → Dao
Đốc (tâm) → Dốc (lòng)
Đẩy → Dẩy...
Giữa DA DA và GIA GIA không có gì khác nhau vì lúc này đã có sự xoá nhãn giữa đối lập D > < GI. Phiên là DA DA hay GIA GIA là do người phiên âm, và cũng để phô tài chơi chữ của tác giả".
Nếu dân gian gọi tên "đa đa" theo tiếng kêu của loài chim giá cô như: "Tiếc rổ tép đa đa! Tiếc rổ tép đa đa!" thì cũng có thể còn các tên gọi khác dựa vào những âm nhại dân gian từ tiếng kêu chim đa đa như "Bát cát quả cà", "hành bất đắc dã ca ca" để gọi là "gô", gà gô (nguyên âm a thành ô như nam/nôm, hạt/hột), "gô" gọi tắt từ "giá cô" như chim "quyên" gọi tắt từ "đỗ quyên". Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San trong Ngữ văn Hán Nôm (tập 2, Nxb. Giáo dục, 1988) lại nhìn nhận, giá - cô (là từ gốc phương Nam) của gà gô; vậy lẽ nào tiếng kêu "gia gia" như trong thơ Trần Danh Án đã từng viết "Giá cô minh gia gia" lại không được dùng để gọi tên: chim gia gia? Cụ Quách Tấn[30] đã cho biết thơ Tàu cũng có "gia gia": "Đỗ vũ than đầu minh quốc quốc, Giá cô giang thượng khiếu gia gia" (Cuốc cuốc đầu gềnh kêu quốc quốc, Đa đa bờ nước gọi gia gia), "Dạ thính đỗ quyên minh quốc quốc, Nhật văn cô điểu hoán gia gia" (Cuốc kêu quốc quốc canh dài, Gia gia ngày những sụt sùi tiếng đa). Theo Nguyễn Đổng Chi[31] và Đỗ Đức Hiểu thì "gia gia" là tiếng kêu của chim giá cô như sau: "Bất thực túc Chu gia", vì dựa theo điển tích Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn cơm gạo nhà Chu, rồi bỏ lên núi và hai ông nhịn ăn rồi chết đói, lòng mãi u uất, "Oan hồn hai ông biến thành một con chim kêu ra rả: "Bất thực túc Chu gia... Bất thực túc Chu gia... Chu gia...gia, gia..." có nghĩa là "Không ăn lúa nhà Chu... Không ăn lúa nhà Chu..." và tiếng cuối cùng "gia gia" âm vang trong núi. Mọi người bảo đó là con chim đa đa còn đầy uất hận"[32]. Chắc tiếng kêu này chỉ là theo khẩu ngữ tục truyền từ dân gian Trung Quốc thôi chứ trong thành ngữ Hán chỉ có: "Bất thực Chu túc 不食周粟"[33] liên quan đến điển tích này. Thông thường chim giá cô trong thư tịch Hán tục truyền có tiếng kêu là "hành bất đắc dã ca ca 行不得也哥哥" (xíng bù dé yě gē gē) nhưng ít ai biết rằng vẫn còn có tiếng kêu khác nữa đó là: "Áo não trạch gia 懊惱澤家" (ào nǎo zé jiā), trong bài thơ Giá cô 鷓鴣 của Vi Trang 韋莊 (đời Đường) có câu: "Áo não trạch gia phi hữu hận 懊惱澤家非有恨" và "Áo não trạch gia" theo bộ Từ Nguyên[34] chính là tiếng kêu của chim giá cô. Nguyễn Văn San trong Đại Nam quốc ngữ[35] đã chú giải về chim đa đa (giá cô) như sau: "Chim đa đa, vua Nghệ Tông gọi nó là Hoài Nam, lại có tên Việt trĩ, nó thường kêu "áo não trạch gia,"câu chu cách trách", hành bất đắc dã ca ca". Như thế, các âm " jiā", "gia" và "gia gia" cũng là một cách tượng thanh của tiếng kêu của chim đa đa chứ không nhất định chỉ là "gē gē", "ca ca" hay "đa đa". Nếu chưa tìm thấy tài liệu chữ quốc ngữ nào ghi nhận chim da da/gia gia cũng không thể khẳng định là không có vì chính tiếng kêu " jiā", "gia" và "gia gia" và quan trọng hơn, đó là cách viết 家, [家鳥] trong văn bản chữ Nôm AB.383 đã là những bằng chứng chắc chắn cho tên gọi chim da da/gia gia. Trừ phi tìm ra được một văn bản chữ Nôm có niên đại sớm nhất, trước bản Nôm AB.383 khắc hay viết là 多 hay [鳥 多] mới có thể quả quyết Bà Huyện Thanh Quan dùng "cái đa đa" chứ không phải là da da/gia gia. Đây cũng là sự phủ định đối với ý kiến vô căn cứ của An Chi khi ông viết một cách võ đoán, trịch thượng: "Gia gia" cũng đâu có phải là tiếng kêu của con đa đa! Đúng như thế và đây là một căn cứ tối quan trọng: Con đa đa đâu có kêu "gia gia" (...) Thế mà người ta đã chấp nhận nó một cách thụ động hàng trăm năm nay và còn hân hoan khen lấy khen để, hoàn toàn không biết rằng "cái gia gia" chỉ là một cấu trúc rỗng tuếch về ngữ nghĩa và sai bét về ngữ pháp. Khôi hài nhất là hàng trăm năm nay, từ cái cấu trúc dỏm đó, các "nhà có uy tín" kia đã suy ra được những cái ý dễ làm rung động lòng người về gia đình, đất nước"[36].
IV. "Gia gia" và nghệ thuật dùng chữ của Bà Huyện Thanh Quan
Với tình hình văn bản hiện nay như chúng tôi đã dẫn ra, cho phép ta tin rằng Bà Huyện Thanh Quan thực sự viết [家鳥], 家 (thanh phù gia) và sẽ có thể đọc là:
1/ DA DA: "Thương nhà mỏi miệng cái da da". "Da da" có thể hiểu là biến âm của "đa đa" và câu trên "Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc" (cuốc chứ không phải là quốc). Nhưng nếu chỉ có thế (da da chẳng qua chỉ là đa đa), 2 câu thơ sẽ trở nên rất bình thường và không có gì đáng tranh luận. Cho nên, ta có thể suy luận hợp lý: nhà thơ cố ý một cách khác thường để nhất định dùng "da da" mà không dùng "đa đa" như muốn người đọc phải liên tưởng đến một âm khác đó là:
2/ GIA GIA: "Thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Tại sao là "gia gia"? Đây chính là một vấn đề lý thú. Nhưng trước hết cần phải đặt dấu hỏi: Tại sao nhà thơ không dùng ĐA ĐA, một tên gọi quá quen thuộc, phổ biến toàn quốc ít nhất từ thế kỷ 17 cho đến ngày nay mà lại như cố ý dùng GIA GIA? Sao không có một bản Nôm nào truyền lại viết là 多多 hay [鳥多] [鳥多] để đọc thành 2 câu thơ rất bình thường, dễ hiểu như: "Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc. Thương nhà mỏi miệng cái đa đa"? và sẽ chẳng có gì đáng phải tranh cãi hay khen chê cho mất thời gian, tốn giấy mực cả. Đây là một phản đề rất quan trọng để đi đến khẳng định về từ ngữ "gia gia" là một cách chọn lọc chữ nghĩa rất tinh tế của nhà thơ. Bà Huyện Thanh Quan nếu viết [家鳥], 家 là có dụng tâm, dụng ý về tu từ, theo chúng tôi cảm nhận, nhà thơ đã chọn âm "gia gia", vừa giống với "da da" - chim đa đa - (thật ra trong tiếng Việt ngày xưa, các phụ âm D và GI hòa lẫn, không phân biệt rõ như ngày nay) vừa liên tưởng đến tiếng kêu "gia gia" như văn, thơ chữ Hán (Việt - Hoa) đã từng dùng và gợi đến ý niệm gia/nhà theo ý "thương nhà: mỏi miệng". Không chỉ có thế, GIA GIA sẽ ứng đối với QUỐC QUỐC ở câu trên. "cuốc cuốc" là tên chim cuốc, nhưng ở đây dùng điệp tự cho ứng với con da da/gia gia như một bài thơ trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập từng viết: "Ðậu lá võ vàng con bướm bướm. Ấp cây gầy guộc cái ve ve"[37], con bướm/ bướm bướm, con ve/ve ve là bình thường trong tiếng Việt xưa nay. "Cuốc" đồng âm "quốc" nên sẽ là QUỐC vì QUỐC vừa giống với "cuốc" (chim) vừa liên tưởng đến tiếng kêu "cuốc cuốc/quốc quốc" như thơ chữ Hán (Việt - Hoa)[38] và sẽ gợi ý niệm quốc/nước theo ý "nhớ nước: đau lòng" ở đầu câu.
Đây chính là tài năng làm thơ độc đáo của Bà Huyện Thanh Quan. Khi đọc ngâm 2 câu thơ 5 và 6, tiếng Việt sẽ như sau:
"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái da da"
Nhưng ngẫm ra mới thấy thủ pháp chơi chữ tài tình: cuốc/quốc và da/ gia và như vậy khi viết chữ Việt cần phải viết QUỐC và GIA nhằm thể hiện rõ phép tu từ của tác giả.
"Nhớ nước đau lòng con QUỐC QUỐC.
Thương nhà mỏi miệng cái GIA GIA"
V. Thay lời kết
Qua những tìm hiểu và luận chứng ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng cách đọc "gia gia" từ các bậc tiền bối là hoàn toàn hợp tình hợp lý vì văn bản chữ Hán, Nôm truyền lại cũng như các bằng chứng về ngữ âm lẫn tiếng kêu của chim đa đa đã chứng minh một cách xác đáng. Sự cảm thụ cũng như nhận thức thấu đáo của tiền nhân về nghệ thuật dùng chữ của Bà Huyện Thanh Quan là đáng trân trọng. Chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm một vài ý quan trọng như tái khẳng định quan điểm của các tiền bối: Nhà thơ nhất định không viết chữ Nôm là 多多 hay [鳥 多] [鳥 多] (không hề có dị bản viết 多 hay [鳥 多]) nghĩa là từ chối âm đọc "đa đa" rất phổ biến trong tiếng Việt trước và ngay trong thời đại của mình nhưng đã chọn lựa tinh tế âm đọc "da da/gia gia" và viết chữ Nôm là [家鳥], 家 như muốn gợi ý cho người đọc liên tưởng ngay đến tiếng kêu "gia gia" của chim đa đa, hơn nữa, "gia" còn gợi ý niệm nhà và thể hiện sự ứng đối với "cuốc cuốc/quốc quốc" ở câu trên. Cho nên, cuối cùng, vẫn là CÁI GIA GIA, hiểu như một tên gọi khác của chim da da/ đa đa. Bằng chứng cho cách đọc GIA GIA chính là tiếng kêu "jiā", "gia" và "gia gia" của chim giá cô trong thư tịch Hoa - Việt và cách viết 家, [家鳥] trong văn bản chữ Nôm AB.383. Vậy thì, 2 câu thơ đặc sắc trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan xưa nay vẫn là:
"Nhớ nước đau lòng con QUỐC QUỐC.
Thương nhà mỏi miệng cái GIA GIA"
Rất mong rằng, bài viết này sẽ đem lại sự yên tâm và vẻ đẹp của thi ca đến với các bạn yêu thích thơ, văn học Việt Nam và các thầy cô cùng các sinh viên, học sinh.
Đinh Văn Tuấn
(Sông Hương 302/04-14)


[1] An Chi: Cái "gia gia" chẳng là... cái gì cả! (http://vienngonnguhoc.gov.vn). Vẫn cứ là cái đa đa (Tạp chí Đương Thời số 11/2009) (http://tunguyenhoc.blogspot.com). Không thể không là cái đa đa (http://www.vanhoahoc.vn). Không nên lẫn lộn các giống chim (http://nhavantphcm.com.vn).
[2] Nguyễn Quảng Tuân, "Cuốc cuốc - da da" hay "Quốc quốc - gia gia" (http://www.honvietquochoc.com.vn).
[3] Vương Trung Hiếu. Cái gia gia là ... cái nhà! (http://www.vanhoahoc.vn). Trao đổi về giống chim. (http://www.vanchuongviet.org).
Lại bàn về giống chim (http://www.vanchuongviet.org). Nam phong Tạp Chí số 5, 1917; số 7, 1918.
[4] Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, Nxb. Văn Học 2004.
[5] Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Nam thi hợp tuyển, Vĩnh Hưng Long Thư Quán, 1927, Xuất Bản Bốn Phương (Tái bản), 1952.
[6] Georges Cordier, Etude sur la littérature annamite, Saigon 1933.
[7] Ngô Tất Tố, Thi văn bình chú, Nxb. Văn Học, Trung tâm Văn hóa Đông tây (tái bản theo bản in lần đầu 1941). 2010.
[8] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử yếu, 1941, Chương thứ IV, Trung tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục (in lần thứ 10), Sàigòn, 1968.
[9] Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu (tập 1). Nhà Sách Vĩnh Bảo Sài Gòn 1949.
[10] Lệ Thần Trần Trọng Kim, Việt Thi, Nxb. Tân Việt. 1949.
[11] Nguyễn Tường Phượng - Phan Văn Sách - Bùi Hữu Sung, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX,. Tài Liệu Giáo Khoa, Hà Nội, 1953.
[12] Thanh Nghị, Việt Nam tân từ điển minh họa, nhà sách Khai Trí. 1967.
[13] Xem chú thích 1, An Chi.
[14] Đỗ Thị Hảo (chủ biên), Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH. 2010.
[15] Maurice Durand, Quốc văn tùng ký, AB.383 (nguồn http://findit.library.yale.edu).
[16] L.m An-tôn Trần Văn Kiệm, Giúp đọc Nôm và Hán Việt, Nxb Đà Nẵng & Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ, Đà Nẵng. 2004.
[17] Vũ Văn Kính, Đại tự điển chữ Nôm, NXB Văn Nghệ TPHCM 1999.
[18] Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Tự Điển Chữ Nôm, Nxb. Giáo Dục 2006.
[19] Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Đặng, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Uyên Thi, Tự điển chữ Nôm trích dẫn, Viện Việt Học ấn hành, 2009.
[20] P.J. Pigneaux, Dictionarium Anamitico - Latinum, (bản thảo viết tay) (1772 - 1773). Nguồn: bản pdf của NNT trong Diễn đàn VVH (viethoc.com).
[21] Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc âm tự vị, Tom I-II Sài Gòn 1895-1896, Nxb. Trẻ, tái bản 1998.
[22] Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển, Hà Nội, 1931, Mặc Lâm tái bản, 1968.
[23] Alexandro de Rhodes (1651), Dictionarivm Annnamiticvm Lvsitanvm et Latinvm, bản dịch tiếng Việt của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, Nxb. Khoa học Xã hội, 1991.
[24] Tam thiên tự giải dịch quốc ngữ (ký hiệu R.1667), Liễu Văn Đường Tàng Bản, khắc in năm 1915, (Nomfoundation.org).
[25] Nguyễn Bỉnh, Ngũ thiên tự dịch Quốc ngữ, bản khắc in năm 1909, ký hiệu R.1554 (Nomfoundation. org).
[26] Phan Đăng (dịch), Thơ văn Tự Đức (tập 3), Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1996.
[27] Lã Minh Hằng (khảo, phiên, dịch chú), Khảo sát từ điển song ngữ Hán -Việt, Đại Nam quốc ngữ (Nguyên bản Nguyễn Văn san), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013.
[28] J.F.M Génibrel, Dictionnaire Annamite - Français, Deuxième édition, Tân Định, Saigon 1898, nguồn sách phổ biến từ books.google.com.
[29] Nguyễn Ngọc San, Thử bàn về vấn đề phiên Nôm, Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm.2004, Thư viện Quốc gia Việt Nam - Hà Nội.
[30] Quách Tấn, Nét bút giai nhân, Nxb. Phụ Nữ 1998.
[31] Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Sự tích chim đa đa, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2000.
[32] Đỗ Đức Hiểu, Mai Thục, Nguyễn Văn Khỏa, Điển tích văn học: 100 truyện hay Đông Tây kim cổ, Nxb. Khoa Học Xã Hội - Mũi Cà Mau, 1990.
[33] Hán Điển, (nguồn http://www.zdic.net).
[34] Từ nguyên (tu đính bản) Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh 1998.
[35] Lã Minh Hằng (khảo, phiên, dịch chú), Khảo sát từ điển song ngữ Hán -Việt, Đại Nam quốc ngữ (Nguyên bản Nguyễn Văn san), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013.
[36] An Chi, Không thể không là cái đa đa, (nguồn: http://www.vanhoahoc.vn).
[37] Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên, Hồng Đức quốc âm thi tập, (in lần thứ hai có sửa chữa) Nxb. Văn học, Hà Nội., 1982.
[38] Tiếng chim cuốc kêu "cuốc cuốc" đã xuất hiện trong bài thơ "Lại vịnh nắng mùa hè" trong Hồng Đức quốc âm thi tập (sđd), ở câu: "Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mõ cuốc".