Monday, July 7, 2014

Nhân sĩ họ Lê và chuyện sách


Nhân sĩ họ Lê tên Hoàng một hôm giời mưa bỗng ngồi lên ghế xa lông bọc đệm. Cơ mà chỉ thế thôi thì chả có chuyện gì. Đối diện với nhân sĩ họ Lê là mỹ nhân họ Triệu. Mỹ nhân cũng ngồi ghế. Chân mỹ nhân dài miên dài man. Ghế thì thấp. Ngồi tự nhiên thì đâm ra lại ghếch lên. Ai chứ mỹ nhân mà ghếch lên thì .. ừm .. quân tử dùng dằng lắm. Cơ mà chỉ mỗi chuyện ghếch lên thì cũng nhạt. Đầy ra trên mạng .. quân tử chả quan tâm. Tình cờ làm sao, dưới chân ghế nhân sĩ và mỹ nhân lại có mấy quyển sách. Để ghế cao lên, để chân mỹ nhân đỡ ghếch. Ái chà chà! Gì chứ sách thì là to chuyện. Nhớ xưa kia có một đào nương, chỉ vì chụp ảnh đứng trên sách mà giang hồ dậy sóng. Gần như toàn bộ thế giới mạng xúm vào thực thi luật sharia – tức là ném đá tới chết – với nàng. Thương thay!
Lê nhân sĩ và Triệu mỹ nhân
Lê nhân sĩ dường như quên mất bài học đắt giá đó. Lê thản nhiên ngồi, thản nhiên nói chuyện, thản nhiên ra về. Lê quên mất ở trường quay có rất nhiều người có máy ảnh. Lê quên mất nhiếp ảnh nước nhà đang thời quần chúng hóa. Lê quên mất trang xã hội đầy quyền năng màu xanh. Rứa là bi kịch! Ôi, cả đời cẩn trọng, một phút lãng tâm. Cái tội nữa là lâu nay nhân sĩ nói nhiều, chửi cũng lắm. Ôi, no dồn đói góp.
Không cần mô tả thì cũng biết luật sharia lại tìm được nạn nhân mới. Mà những hai: Nhân sĩ và Mỹ nhân. Làm chi còn con mồi nào tốt hơn cho đống đá đang nằm chờ trên hàng triệu bàn phím. “Vô văn hóa! Vô văn hóa! và Vô văn hóa!” Kinh!
Sao lại vô văn hóa? Thưa, vì xem thường sách. Vì sách là biểu trưng của tri thức. Chết chưa! Báo Đất Việt online viết: “Tính biểu tượng của những quyển sách giấy đã ổn định và bền vững đến mức, ngày nay người ta có thể dễ dàng chấp nhận cảnh ai đó đập vỡ một chiếc Amazon Kindle hay một cái iPad chứa hàng ngàn cuốn sách điện tử giá trị nhưng khó chấp nhận chuyện bạn ra đường đốt mấy quyển sách, dù chưa biết đó là loại sách gì.” (Cái ni hình như không đúng lắm. Hôm trước mình làm vỡ máy Kindle. Tiếc đứt ruột).
Cũng lại vẫn Đất Việt bình “… trên thực tế đã có chuyện rất nhiều người giàu có tuy không đọc sách bao giờ nhưng thường mua những bản sách bìa cứng về đặt lên giá sách phòng khách để décor, những quán cà phê sách mọc lên đầy rẫy trong thành phố không phải vì nhu cầu đọc sách của người uống cà phê đang tăng cao mà có khi chỉ đơn giản các chủ quán nắm bắt tâm lý khách hàng của họ có nhu cầu được ngồi trong một không gian có nhiều sách.
Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, một thiểu số nào đó trong xã hội coi sách là vật trang sức, gần sách họ cảm thấy mình có vẻ tri thức hơn!
Bỗng dưng nhớ chuyện gần đây, nhân ngày Hội sách và Văn hóa đọc, Bộ Văn Thể Du công bố: “Theo thống kê hàng năm dựa trên báo cáo của các thư viện gửi về Bộ, người Việt đọc trung bình 0,8 cuốn sách/người/năm. Tỉ lệ sách bình quân đầu người tại các thư viện công cộng là 0,38 cuốn.” Bên cạnh đó, ông Nguyễn Quang Thạch - người khởi xướng dự án Sách hóa nông thôn cho biết về một cuộc khảo sát cá nhân khác: "Năm 2011 tôi khảo sát 530 phiếu phỏng vấn, trong đó 253 phiếu dành cho nông dân thì câu trả lời về số lượng sách đọc là 0. Với trẻ em, số liệu chênh lệch đọc với thị trấn đến mức tệ hại. Ở các trường vùng thuần nông, các em đọc 0,2-0,8  cuốn/năm (ngoài SGK), ở thị trấn, con số này là 5 cuốn/năm". 
Ra Đinh Lễ, thấy sách in ra cũng nhiều. In nhiều sách, ca ngợi sách điên cuồng mà đọc thì ít.
Tài thiệt!
Bỗng dưng nhớ chuyện anh văn xã ở phường kẻ lên tường ở phòng làm việc khẩu hiệu sau, đúng bố cục luôn nhá:
KHÔNG CÓ SÁCH!
KHÔNG CÓ TRI THỨC!
KHÔNG CÓ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI![1]
Ở đời, cái chi cũng có giả.



[1] Danh ngôn của V. Lenin: Không có sách thì không có tri thức. Không có tri thức thì không có Chủ nghĩa xã hội.

Cái "gia gia" chẳng là ... cái gì cả


Chúng tôi không bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.
Hai câu 5 và 6 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan vẫn được các nhà nghiên cứu và các nhà biên soạn có uy tín ghi là:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Nhưng gần đây ở trên mạng, có nhiều trang lại ghi chữ thứ sáu và chữ thứ bảy của câu 6 thành “da da”. Vì vậy nên đã phát sinh vấn đề: phải viết hai chữ này với d- (“da da”) hay gi- (“gia gia”) thì mới đúng?
Xin khẳng định ngay một cách dứt khoát rằng nếu viết với gi- thành “gia gia” thì “cái gia gia” sẽ là một cấu trúc hoàn toàn vô nghĩa. Các nhà có uy tín kia đã không biết, hoặc ít nhất cũng không để ý, rằng ba tiếng cuối của câu 5 (con X X) và ba tiếng cuối của câu 6 (cái Y Y) trong bài thơ tạo thành hai ngữ danh từ chỉ hai giống chim chứ hai tiếng cuối của mỗi câu (mà họ viết thành “quốc quốc” và “gia gia”) tuyệt đối không phải là những từ tượng thanh (onomatopoeia). Ở đây Bà Huyện nói về hai giống chim, như ai nấy đều có thể biết một cách hoàn toàn dễ dàng và tự nhiên: con trong câu 5 thì đau lòng vì nhớ nước còn con trong câu 6 thì mỏi miệng vì thương nhà. Vậy thì con trong câu 6 là con gì? Thưa đó là  con đa đa và chính vì đây là con đa đa nên chúng tôi xin trả lời rằng nếu bất đắc dĩ phải chọn lựa giữa “gia gia” và “da da” thì chúng tôi sẽ chọn cách viết thứ hai vì những lý do sau đây:
Ngữ âm học lịch sử đã cho phép khẳng định rằng trong một số trường hợp nhất định thì Đ [d] và D[z] từng có chung một nguồn gốc (Xin x., chẳng hạn, Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1995, tr. 63; hoặc Lê Văn Quán, Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, tr.105). Chính vì thế nên cho đến hiện nay, ta vẫn còn thấy được những lưu tích về mối tương ứng “Đ ~ D” giữa phương ngữ miền Bắc với phương ngữ miền Nam hoặc giữa phương ngữ Bắc Trung bộ với ngôn ngữ toàn dân. Cái đĩa ở miền Bắc là cái dĩa ở trong Nam; còn cây da ở trong Nam thì miền Bắc lại  gọi là cây đa. Đặc biệt, cái bánh đa ở ngoài Bắc đã từng được gọi là bánh da ở trong Nam (còn bây giờ đã được thay bằng “bánh tráng”). Bằng chứng sớm nhất mà ta có thể có được về cách gọi này ở trong Nam là mục từ “bánh da” trong Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine, rồi sau đó là mục từ cùng tên, trong quyển từ điển cũng cùng tên (1838) của J.L. Taberd. Nhưng có lẽ lại càng đầy tính thuyết phục hơn nữa là cho đến 1895, Huình- Tịnh Paulus Của vẫn còn giảng trong Đại Nam quấc âm tự vị, tome I: “Bánh da: Bánh tráng.”
Trở lên là nói về mối quan hệ “Đ (Bắc) ~ D (Nam)”. Còn về quan hệ giữa Đ của Bắc Trung bộ với D của tiếng Việt toàn dân thì ta cũng có thể tìm thấy trong Phương ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) rất nhiều dẫn chứng: - đa đẻ ~ da dẻ, - (màu) đà ~ (màu) dà, - đạ đày ~ dạ dày, - đám ~ dám (trong dám nghĩ dám làm), - đao ~ (con) dao, - đày ~ dày (trong dày mỏng), v.v..
Trở lại với mối tương ứng “Đ (Bắc) ~ D (Nam)”, ta đã có “đa (Bắc) ~ da (Nam)” đến hai lần, một lần với tên của một giống thực vật, một lần với tên của một loại thực phẩm. Nguồn gốc chung của hai cách phát âm này đã tồn tại trong Từ điển Việt – Bồ – La (Roma, 1651) của Alexandre de Rhodes. Trong quyển từ điển lấy tiếng Đàng Ngoài làm nền tảng này,  cả da trong da thịt lẫn đa trong cây đa (của miền Bắc) đều được ghi là dea. Vậy nếu mượn cách ghi của A. de Rhodes làm ký hiệu, ta có thể nói rằng trước 1651 thì, đối với những từ đang xét, tiền thân của Đ và D đều là DE. Chính vì mối quan hệ này giữa Đ và D nên chúng tôi mới chủ trương viết da da (chứ không phải “gia gia”) để ghi tên con đa đa, nếu bất đắc dĩ phải lựa chọn. Nhưng với chúng tôi thì chữ của Bà Huyện Thanh Quan cũng không phải “da da” mà hẳn hoi là đa đa. Và hai câu thơ đang xét trong bài Qua đèo Ngang là:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái đa đa.
Chúng tôi chủ trương như trên, còn bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh thì không tán thành nên đã viết trên Hồn Việt 18 (12-2008) như sau:
“Tôi không đồng ý vì tuy bà (Huyện Thanh Quan - AC) người miền Bắc nhưng chắc gì bà biết hết tên các loài chim để mà đổi “da da” thành “đa đa”, theo phát âm của người miền Bắc? Bà đi qua Đèo Ngang nghe tiếng chim hót thì hỏi dân địa phương, người ta bảo là “da da” thì bà gọi theo là “da da” chứ bà không biết quốc ngữ cũng không học ngôn ngữ học nên không thể biết “d” và “đ” cùng một gốc. Mặt khác,  bà thành thạo làm thơ thất ngôn bát cú có đối chọi nên có thể đã “chơi chữ” với cách phát âm tên hai loài chim, “quốc” hay “cuốc”, “da” hay “gia” bà không phân biệt được.” (tr.61).
Xin trân trọng thưa lại với bà Chân Quỳnh như sau. Xưa nay, khắp nước Việt Nam, không có địa phương nào gọi con đa đa, còn có tên là gà gô, bằng cái tên “da da” cả. Từ điển Việt- Bồ- La (1651) của A. de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng, rồi phương ngữ Bắc Trung Bộ là nơi còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa, đều ghi hoặc gọi là đa đa. Tiếng Nguồn ở Quảng Bình, một ngôn ngữ cùng gốc (Việt-Mường) với tiếng Việt (Kinh), cũng gọi giống chim này là đa đa. Đây là một bằng chứng chắc chắn để phủ nhận hai tiếng/chữ “da da”. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là ai cũng biết, tuy về hình thức, Qua đèo Ngang có những câu thơ tả cảnh nhưng thực chất đây là một bài thơ trữ tình. Làm thơ trữ tình thì “rút gan rút ruột” ra mà làm chứ còn đợi đi hỏi ai. Điểm thứ ba là, không riêng gì Bà Huyện, mà cả ông bà ta ngày xưa nữa, tuy không biết chữ quốc ngữ, cũng không học “ngôn ngữ học”, nhưng vẫn có cách để phân biệt d- với gi-, d- với r-, ch- với tr-, v.v., trong khi sáng tạo chữ Nôm. Đó là ngôn ngữ học “tự nhiên nhi nhiên” của họ đấy! Điểm thứ tư là con cuốc cuốc và cái đa đa, theo cách hiểu và cách ghi của chúng tôi, cũng rất “đối chọi” theo đúng luật thơ Đường chứ đâu phải là không. Đối nhau chan chát ấy đi chứ! Và cuối cùng là tuy Bà Huyện có quyền “chơi chữ” nhưng bà không được quyền bóp méo từ ngữ: cái đa đa là cái đa đa, chứ dứt khoát không thể thành “cái da da”, càng không thể là “cái gia gia”.
Tiếp theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh, trên Hồn Việt 19 (01-2009), ta lại thấy xuất hiện ý kiến của ông Nguyễn Quảng Tuân với lời dẫn của ban biên tập: “Học giả An Chi (…) bằng vốn kiến thức ngữ học uyên bác của mình, đã bàn về gia gia - quốc quốc. Nhưng đây không phải là chuyện ngữ âm học lịch sử thuần tuý, mà là thơ, lại là thơ luật Đường… nên học giả Nguyễn Quảng Tuân đưa ra một cách tiếp cận khác.” Vậy đâu là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân? Ông chẳng đưa ra cách tiếp cận nào khác của riêng mình cả. Ông chỉ dẫn ra ý kiến của Nguyễn Văn Ngọc trong Nam thi hợp tuyển và của Lý Văn Hùng trong Việt Nam văn chương trích diễm (Sài Gòn, 1961) rồi kết luận: “Chúng tôi nhận thấy, như mọi người từ trước đến nay, kể cả các vị có uy tín, đều cho rằng “quốc quốc” và “gia gia” chỉ là một cách chơi chữ thôi nên hai câu luận trong bài Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan nên chép là:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
cho thích hợp với ý văn và phép đối trong câu thơ thất ngôn bát cú.”
Trở lên là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân còn dưới đây là nhận xét của chúng tôi, trước nhất là về phần ông trích dẫn Lý Văn Hùng, đặc biệt là về lời dịch của họ Lý đối với hai câu thơ đang xét. Hai câu này đã được Lý Văn Hùng dịch thành:
Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia.
Dụng ý của ông Nguyễn Quảng Tuân là dựa vào mấy tiếng “gia gia” của họ Lý để củng cố cho cách chép mà ông đưa ra trong phần kết luận. Nhưng ông đã nhầm. Hai cấu trúc con quốc quốc và cái gia gia (Xin cứ tạm chép như thế) trong lời thơ của Bà Huyện là những ngữ danh từ, trong đó quốc quốc và gia gia là danh từ (vì là tên của hai giống chim), còn hai cấu trúc hô quốc quốc và khiếu gia gia trong lời dịch của Lý Văn Hùng là những ngữ vị từ, trong đó quốc quốc và gia gia là từ tượng thanh. Hai bên đã khác nhau một trời một vực như thế mà ông lại muốn lấy hai tiếng tượng thanh gia gia để chứng minh cho sự đúng đắn(?) của danh từ “gia gia” trong câu thơ tiếng Việt sao được? Việc ông Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn Lý Văn Hùng ở đây là một việc làm không thích hợp vì hoàn toàn không có tác dụng “làm chứng” cho hai tiếng “gia gia” (tiếng Việt) mà ông chủ trương.
Còn việc trích dẫn Nguyễn Văn Ngọc thì sao? Cũng chẳng có giá trị gì hơn vì tác giả này cũng chỉ diễn giảng trên cơ sở của hai tiếng “gia gia” là hai tiếng mà chính chúng tôi đang phản bác. Chỉ khi nào Nguyễn Văn Ngọc chứng minh được rằng “gia gia” là một cái tên có thật của một giống chim và là một hình thức chính tả chuẩn dùng để ghi cái tên đó thì chừng đó những lời diễn giảng của ông may ra mới có giá trị. Xin nói cho rõ thêm một chút nữa như sau. Chỉ khi nào chỉ với hình thức chính tả “gia gia” mà tác giả vừa chỉ được giống chim cần nói đến, lại vừa chỉ được khái niệm “nhà cửa”, “gia đình” thì chừng đó ta mới thực sự có hiện tượng chơi chữ. Đằng này… người ta phải bóp méo từ ngữ để cho có thể có được một cái âm với một cách ghi gợi lên cái ý “nhà” thì chơi chữ là chơi… như thế nào? Cách ghi méo mó này không có bất cứ lý do ngữ học và văn cảnh nào để tồn tại cả. Chẳng qua vì nó đã lưu hành ngót nghét hằng thế kỷ nên nhiều người mới không đành lòng gạt bỏ đó mà thôi. Nhưng cũng có người không cần biết đến nó mà cứ ghi thẳng hai chữ đa đa vào câu thơ của Bà Huyện, chẳng hạn GS Đỗ Quang Vinh trên www.khoahoc.net (ngày 26.4.2007). Các nhà có uy tín kia đã bị cái thế đối “quốc quốc - gia gia” mơn trớn và ru ngủ nên cũng chẳng cần biết rằng từ vựng tiếng Việt không hề có danh từ “gia gia” với tính cách là tên của một giống chim mà hệ động vật của Việt Nam cũng chẳng có giống chim nào tên là “gia gia”. Tóm lại, ta tuyệt đối không thể có “ý văn” hay nếu nó được diễn giảng từ những từ ngữ bị bóp méo. Chơi chữ mà lại bóp méo từ ngữ thì còn chơi cái gì?
Cuối cùng xin nói cho rõ ràng rằng chúng tôi đã không hề bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có một mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.
An Chi

Nguồn: VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG ĐƯƠNG THỜI, Từ chữ đến nghĩa số 2/2009

Về “cái gia gia” trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan


Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ "Qua đèo Ngang" là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ "cái gia gia"[1].
Sự tranh luận này có chiều hướng phủ nhận quan điểm cũ của các tiền bối cũng như những người tin theo họ để bảo vệ cho cách đọc "cái đa đa". Thế nhưng, theo chúng tôi, tranh luận đã không đi đến tiến bộ và sự thật với các bằng chứng có giá trị thuyết phục mà ngược lại đã gây ra nhiễu loạn về học thuật, làm mất cảm hứng cho người yêu thơ và gây hoang mang cho sự học tập, giảng dạy của thầy và trò.
Bài viết này là một cố gắng tìm hiểu lại vấn đề một cách khách quan trên tinh thần khoa học với các chứng cứ xác đáng. Hy vọng có thể trả lại giá trị nghệ thuật và ý nghĩa vốn có của những vần thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan.
I. "Gia gia" và văn bản chữ quốc ngữ
"Cái gia gia" trong câu thơ thứ 6 ở bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan được phiên âm và viết chữ quốc ngữ sớm nhất có lẽ là từ tác giả Phạm Quỳnh, 1917[2] và sau đó đến các nhà nghiên cứu văn học khác như Tuyết Trang Trần Văn Ngoạn, 1918[3]; Trần Trung Viên, 1925 - 1930[4]; Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, 1927[5]; Georges Cordier, 1933[6]; Ngô Tất Tố, 1941[7]; Dương Quảng Hàm, 1941[8]; Hạo Nhiên Nghiêm Toản, 1949[9]; Trần Trọng Kim, 1946[10]; Nguyễn Tường Phượng, 1953[11] và các nhà khác cho đến nay cũng vẫn là "cái gia gia".
Về ý nghĩa "cái gia gia", cụ Nguyễn Văn Ngọc, lần đầu tiên đã chú giải tường tận: "Gia gia = đáng lẽ cũng viết da da, hay đa đa; chỉ một giống chim thuộc về loài gà, loài công, lông đỏ, trắng, xám, hay đen, ở những nơi quang đãng, không đậu trên cành cây bao giờ và người ta hay săn bắn, mới đúng, nhưng cũng vì đây tuy mượn đến con da da mà thực ý lại nói đến gia ăn với chữ quốc ở trên và nghĩa là nhà". Như vậy, theo đó "gia gia" chính là "da da", một biến âm dân gian của "đa đa" nhưng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, "da da" phải đọc là "gia gia" (nhà) để ứng đối với "quốc quốc" ở câu trên vì cụ Ôn Như cũng đã giảng về "quốc quốc" ở câu thơ thứ 5: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc" như sau: "Đáng lẽ viết cuốc cuốc, nhưng vì đây tuy mượn đến con cuốc mà thực ý lại nói đến quốc nghĩa là nước. Ngô Tất Tố còn trích thơ của di thần đời Lê là Trần Danh Án: "鷓 鴣 鳴 家 家, 杜 鵑 鳴 國 國, 微 禽 尚 有 國 家 聲, 孤 臣 對 此 情 難 極, Gia cô minh "gia gia", Đỗ Quyên minh "quốc quốc", Vi cầm thượng hữu" quốc" "gia", thanh. Cô thần đối thử tình nan cực" (Gà gô kêu gia gia, con cuốc kêu quốc quốc, loài chim nhỏ còn có tiếng kêu "quốc" "gia", kẻ bề tôi chơ vơ đối với những tiếng ấy đau lòng khôn xiết" và cho là có thể Bà Huyện Thanh Quan đã chịu ảnh hưởng "minh quốc quốc", "minh gia gia" để viết thành "con quốc quốc" và "cái gia gia". Các nhà khác về sau, nói chung đều cũng hiểu ngay "gia gia" là nói đến loài chim đa đa hay gà gô, tên chữ Hán là giá cô 鷓鴣.
Tóm lại, 2 chữ cuối của câu thơ thứ 6 trong bài thơ Qua đèo Ngang, từ trước đến nay đều được đa số các nhà nghiên cứu đọc hiểu là "gia gia" ám chỉ con chim đa đa và cũng liên tưởng đến ý niệm "nhà" như một thủ pháp "chơi chữ" trong thơ ca. Nhưng một số nghi vấn có thể nảy sinh từ đó: Tại sao chỉ là "gia gia" mà không phải là "da da" hay "đa đa"? Liệu có một dị bản nào khác thay cho "gia gia"?
II. "Gia gia" và văn bản chữ Nôm
Trong tất cả các sách báo viết về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (kể các các bài tranh luận gần đây), điều đáng tiếc là thiếu vắng bản Nôm gốc (dù là truyền bản) để làm bằng chứng khi luận giải, nguyên nhân có thể là do trở ngại về việc in chữ Nôm hay thói quen xem thường bản gốc và cũng vì việc tìm đọc các văn bản Hán Nôm quý hiếm (lại không được sao chụp, in ra để phổ biến) rất khó khăn. Dù vậy, thông qua các tài liệu quốc ngữ xưa nay do các nhà nghiên cứu uy tín về văn học Hán Nôm biên soạn, ta nhận thấy không một tác giả nào đã đưa ra một dị bản nào khác ngoài "gia gia". Tuy nhiên Thanh Nghị, 1967[12] có thể là người đầu tiên đọc là "đa đa" thay vì "gia gia": "Thương nhà mỏi miệng cái đa đa" nhưng lại không cho biết nguồn trích dẫn, có thể là ông tự suy đoán theo tri thức riêng mình. Rồi mới gần đây An Chi cũng tin tưởng và quả quyết cách đọc "đa đa"[13] là đúng nhưng lại cũng không đưa ra được bằng chứng về chữ Nôm, một thiếu sót quan trọng khi nghiên cứu, bàn luận. Nhưng cách đọc "đa đa" liệu có đúng theo văn bản chữ Nôm nào đó không? Theo PGS. TS Đỗ Thị Hảo[14], những bài thơ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan có chép rải rác trong 5 văn bản: 1. Liệt truyện thi ngâm, AB.147; 2. Quốc âm thi tập, AB.649; Thi ca quốc âm tạp lục, VHv.266; Quốc văn tùng thư, VHv.2248; Quốc văn tùng ký, AB.383, Đỗ Thị Hảo cho biết trong 5 văn bản này, chỉ có bản AB.383 là đáng tin cậy còn các bản khác đều chép tùy tiện, chữ có nhiều dị biệt. Bản Quốc văn tùng ký do Nguyễn Văn San tự là Vân Sơn tên hiệu là Hải Châu Tử biên soạn, ông là người sống cùng thời với Bà Huyện Thanh Quan. Các bài thơ này được Đỗ Thị Hảo khảo cứu với phương pháp: "...mỗi bài thơ chúng tôi sẽ so sánh, đối chiếu những dị biệt ở từng câu chữ với những bài thơ đã từng được công bố trước đây" và bài Qua đèo Ngang đã được Đỗ Thị Hảo phiên âm và chú thích cẩn thận, đáng chú ý là có kèm theo chữ Nôm, tuy nhiên, đây không phải chữ Nôm gốc nhưng lại là font vi tính nên không biết có thật chính xác? Câu thứ 6 như sau: "Thương nhà mỏi miệng cái gia gia", hai chữ "gia gia" được ghi là 家家. Chúng tôi đã tìm thấy bản chép tay văn bản Quốc văn tùng ký 國文 叢 記 AB.383 từ thư viện gia đình của Maurice Durand[15], phần Phụ Nhàn Khanh thi tập 附 嫻 卿 詩 集 có chép bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan và 2 chữ cuối câu thứ sáu được chép chữ Nôm là [家鳥], người chép tay đã phiên Nôm là "gia gia". Chữ Nôm có phần biểu âm là gia 家 và phần biểu ý là điểu 鳥. Chữ Nôm trong sách của Đỗ Thị Hảo và của Maurice Durand tuy khác nhau nhưng dù sao phần thanh phù vẫn chỉ là gia 家 và từ âm gia chỉ có thể đọc là da hay gia mà thôi, không thể đọc ra "đa" được. Cụ Trần Văn Kiệm[16] cũng đã từng dẫn ra chữ 2 chữ Nôm [家鳥] và [加 鳥] (thanh phù gia) và đọc là "gia" (mỏi miệng cái gia gia). Chúng tôi đã tra cứu trong các bộ tự điển chữ Nôm loại lớn như Đại tự điển chữ Nôm (Vũ Văn Kính)[17], Tự điển chữ Nôm[18] (Nguyễn Quang Hồng), Tự điển chữ Nôm trích dẫn[19] (Viện Việt Học) thì thấy âm "gia" được viết bằng chữ Nôm như 家, 加, 耶, 茄, 嘉, 傢, 痂, 椰, 跏, 葭, 瘕, 爺 (thanh phù gia, già, da)... và âm "đa" được ký âm bằng đa 多,爹, 栘, [飠它] (thanh phù đa, đà). Riêng chữ 枷, tự điển Nguyễn Quang Hồng cho là có âm đa (trong cây đa) nhưng theo chúng tôi thanh phù gia phải đọc là "da" mới đúng âm xưa. Thật ra xưa là cây "da" (= cây đa) như tự vị của P. Béhaine (1772 - 73)[20], Huỳnh Tịnh Của[21] (1895 - 96) đã ghi nhận và viết Nôm là 椰 (da), đến tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức[22] (1931) mới ghi nhận cây da = cây đa. Như thế, cách đọc "đa đa" của Thanh Nghị và An Chi không xác đáng vì thiếu chứng cứ văn bản cũng như về phép đọc chữ Nôm, cho đến nay chưa phát hiện ra một dị bản nào chép chữ Nôm là 多 hay [鳥 多] và dĩ nhiên như trên đã nói, [家鳥], 家 trong bản AB.383 (và các bản khác) không thể đọc ra "đa đa".
III. "Gia gia" và tiếng kêu của chim giá cô (đa đa)
Tên gọi tiếng Việt của loài chim giá cô 鷓鴣 xuất hiện sớm nhất trong tự điển Việt - Bồ - La (1651)[23] của Đắc Lộ [Alexandro de Rhodes] với tên gọi là chim "đa đa" và từ đó về sau hầu hết các tự điển, tự vị quốc ngữ đều chỉ ghi nhận "đa đa". Về chữ Nôm của tên gọi loài chim "đa đa", trong các văn bản Nôm như Tam thiên tự[24], Ngũ thiên tự[25], Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca[26], Đại Nam quốc ngữ[27] và các tự vị, tự điển của P. Béhaine, Huỳnh Tịnh Của, J.F.M. Génibrel[28]... đều ký âm là 多多, không có tự dạng nào khác nữa. Hiện vẫn chưa tìm ra tài liệu nào ghi nhận chim đa đa còn gọi là da da hay gia gia nhưng vì các tự vị, tự điển xưa không thể thâu thập hết tiếng Việt nên không biết đến và rất có thể trong dân gian (ở địa phương nào đó) đã từng gọi tên như vậy? Tiếng Việt (hay trong phương ngữ miền Trung) từng có sự biến đổi qua lại giữa D và Đ như đao/dao; đĩa/dĩa; da/đa... vậy khả năng đa đa có thể được nói là da da như cụ Nguyễn Văn Ngọc đã giảng? Nguyễn Ngọc San[29] giải thích về "gia gia": "Đây là cách chơi chữ của tác giả. GIA GIA là đa đa, giống gà nhỏ sống ở ven rừng (...) Đa đa có thể biến âm thành DA DA, giống như các trường hợp sau:
Đình → Dừng
Đao → Dao
Đốc (tâm) → Dốc (lòng)
Đẩy → Dẩy...
Giữa DA DA và GIA GIA không có gì khác nhau vì lúc này đã có sự xoá nhãn giữa đối lập D > < GI. Phiên là DA DA hay GIA GIA là do người phiên âm, và cũng để phô tài chơi chữ của tác giả".
Nếu dân gian gọi tên "đa đa" theo tiếng kêu của loài chim giá cô như: "Tiếc rổ tép đa đa! Tiếc rổ tép đa đa!" thì cũng có thể còn các tên gọi khác dựa vào những âm nhại dân gian từ tiếng kêu chim đa đa như "Bát cát quả cà", "hành bất đắc dã ca ca" để gọi là "gô", gà gô (nguyên âm a thành ô như nam/nôm, hạt/hột), "gô" gọi tắt từ "giá cô" như chim "quyên" gọi tắt từ "đỗ quyên". Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San trong Ngữ văn Hán Nôm (tập 2, Nxb. Giáo dục, 1988) lại nhìn nhận, giá - cô (là từ gốc phương Nam) của gà gô; vậy lẽ nào tiếng kêu "gia gia" như trong thơ Trần Danh Án đã từng viết "Giá cô minh gia gia" lại không được dùng để gọi tên: chim gia gia? Cụ Quách Tấn[30] đã cho biết thơ Tàu cũng có "gia gia": "Đỗ vũ than đầu minh quốc quốc, Giá cô giang thượng khiếu gia gia" (Cuốc cuốc đầu gềnh kêu quốc quốc, Đa đa bờ nước gọi gia gia), "Dạ thính đỗ quyên minh quốc quốc, Nhật văn cô điểu hoán gia gia" (Cuốc kêu quốc quốc canh dài, Gia gia ngày những sụt sùi tiếng đa). Theo Nguyễn Đổng Chi[31] và Đỗ Đức Hiểu thì "gia gia" là tiếng kêu của chim giá cô như sau: "Bất thực túc Chu gia", vì dựa theo điển tích Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn cơm gạo nhà Chu, rồi bỏ lên núi và hai ông nhịn ăn rồi chết đói, lòng mãi u uất, "Oan hồn hai ông biến thành một con chim kêu ra rả: "Bất thực túc Chu gia... Bất thực túc Chu gia... Chu gia...gia, gia..." có nghĩa là "Không ăn lúa nhà Chu... Không ăn lúa nhà Chu..." và tiếng cuối cùng "gia gia" âm vang trong núi. Mọi người bảo đó là con chim đa đa còn đầy uất hận"[32]. Chắc tiếng kêu này chỉ là theo khẩu ngữ tục truyền từ dân gian Trung Quốc thôi chứ trong thành ngữ Hán chỉ có: "Bất thực Chu túc 不食周粟"[33] liên quan đến điển tích này. Thông thường chim giá cô trong thư tịch Hán tục truyền có tiếng kêu là "hành bất đắc dã ca ca 行不得也哥哥" (xíng bù dé yě gē gē) nhưng ít ai biết rằng vẫn còn có tiếng kêu khác nữa đó là: "Áo não trạch gia 懊惱澤家" (ào nǎo zé jiā), trong bài thơ Giá cô 鷓鴣 của Vi Trang 韋莊 (đời Đường) có câu: "Áo não trạch gia phi hữu hận 懊惱澤家非有恨" và "Áo não trạch gia" theo bộ Từ Nguyên[34] chính là tiếng kêu của chim giá cô. Nguyễn Văn San trong Đại Nam quốc ngữ[35] đã chú giải về chim đa đa (giá cô) như sau: "Chim đa đa, vua Nghệ Tông gọi nó là Hoài Nam, lại có tên Việt trĩ, nó thường kêu "áo não trạch gia,"câu chu cách trách", hành bất đắc dã ca ca". Như thế, các âm " jiā", "gia" và "gia gia" cũng là một cách tượng thanh của tiếng kêu của chim đa đa chứ không nhất định chỉ là "gē gē", "ca ca" hay "đa đa". Nếu chưa tìm thấy tài liệu chữ quốc ngữ nào ghi nhận chim da da/gia gia cũng không thể khẳng định là không có vì chính tiếng kêu " jiā", "gia" và "gia gia" và quan trọng hơn, đó là cách viết 家, [家鳥] trong văn bản chữ Nôm AB.383 đã là những bằng chứng chắc chắn cho tên gọi chim da da/gia gia. Trừ phi tìm ra được một văn bản chữ Nôm có niên đại sớm nhất, trước bản Nôm AB.383 khắc hay viết là 多 hay [鳥 多] mới có thể quả quyết Bà Huyện Thanh Quan dùng "cái đa đa" chứ không phải là da da/gia gia. Đây cũng là sự phủ định đối với ý kiến vô căn cứ của An Chi khi ông viết một cách võ đoán, trịch thượng: "Gia gia" cũng đâu có phải là tiếng kêu của con đa đa! Đúng như thế và đây là một căn cứ tối quan trọng: Con đa đa đâu có kêu "gia gia" (...) Thế mà người ta đã chấp nhận nó một cách thụ động hàng trăm năm nay và còn hân hoan khen lấy khen để, hoàn toàn không biết rằng "cái gia gia" chỉ là một cấu trúc rỗng tuếch về ngữ nghĩa và sai bét về ngữ pháp. Khôi hài nhất là hàng trăm năm nay, từ cái cấu trúc dỏm đó, các "nhà có uy tín" kia đã suy ra được những cái ý dễ làm rung động lòng người về gia đình, đất nước"[36].
IV. "Gia gia" và nghệ thuật dùng chữ của Bà Huyện Thanh Quan
Với tình hình văn bản hiện nay như chúng tôi đã dẫn ra, cho phép ta tin rằng Bà Huyện Thanh Quan thực sự viết [家鳥], 家 (thanh phù gia) và sẽ có thể đọc là:
1/ DA DA: "Thương nhà mỏi miệng cái da da". "Da da" có thể hiểu là biến âm của "đa đa" và câu trên "Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc" (cuốc chứ không phải là quốc). Nhưng nếu chỉ có thế (da da chẳng qua chỉ là đa đa), 2 câu thơ sẽ trở nên rất bình thường và không có gì đáng tranh luận. Cho nên, ta có thể suy luận hợp lý: nhà thơ cố ý một cách khác thường để nhất định dùng "da da" mà không dùng "đa đa" như muốn người đọc phải liên tưởng đến một âm khác đó là:
2/ GIA GIA: "Thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Tại sao là "gia gia"? Đây chính là một vấn đề lý thú. Nhưng trước hết cần phải đặt dấu hỏi: Tại sao nhà thơ không dùng ĐA ĐA, một tên gọi quá quen thuộc, phổ biến toàn quốc ít nhất từ thế kỷ 17 cho đến ngày nay mà lại như cố ý dùng GIA GIA? Sao không có một bản Nôm nào truyền lại viết là 多多 hay [鳥多] [鳥多] để đọc thành 2 câu thơ rất bình thường, dễ hiểu như: "Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc. Thương nhà mỏi miệng cái đa đa"? và sẽ chẳng có gì đáng phải tranh cãi hay khen chê cho mất thời gian, tốn giấy mực cả. Đây là một phản đề rất quan trọng để đi đến khẳng định về từ ngữ "gia gia" là một cách chọn lọc chữ nghĩa rất tinh tế của nhà thơ. Bà Huyện Thanh Quan nếu viết [家鳥], 家 là có dụng tâm, dụng ý về tu từ, theo chúng tôi cảm nhận, nhà thơ đã chọn âm "gia gia", vừa giống với "da da" - chim đa đa - (thật ra trong tiếng Việt ngày xưa, các phụ âm D và GI hòa lẫn, không phân biệt rõ như ngày nay) vừa liên tưởng đến tiếng kêu "gia gia" như văn, thơ chữ Hán (Việt - Hoa) đã từng dùng và gợi đến ý niệm gia/nhà theo ý "thương nhà: mỏi miệng". Không chỉ có thế, GIA GIA sẽ ứng đối với QUỐC QUỐC ở câu trên. "cuốc cuốc" là tên chim cuốc, nhưng ở đây dùng điệp tự cho ứng với con da da/gia gia như một bài thơ trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập từng viết: "Ðậu lá võ vàng con bướm bướm. Ấp cây gầy guộc cái ve ve"[37], con bướm/ bướm bướm, con ve/ve ve là bình thường trong tiếng Việt xưa nay. "Cuốc" đồng âm "quốc" nên sẽ là QUỐC vì QUỐC vừa giống với "cuốc" (chim) vừa liên tưởng đến tiếng kêu "cuốc cuốc/quốc quốc" như thơ chữ Hán (Việt - Hoa)[38] và sẽ gợi ý niệm quốc/nước theo ý "nhớ nước: đau lòng" ở đầu câu.
Đây chính là tài năng làm thơ độc đáo của Bà Huyện Thanh Quan. Khi đọc ngâm 2 câu thơ 5 và 6, tiếng Việt sẽ như sau:
"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái da da"
Nhưng ngẫm ra mới thấy thủ pháp chơi chữ tài tình: cuốc/quốc và da/ gia và như vậy khi viết chữ Việt cần phải viết QUỐC và GIA nhằm thể hiện rõ phép tu từ của tác giả.
"Nhớ nước đau lòng con QUỐC QUỐC.
Thương nhà mỏi miệng cái GIA GIA"
V. Thay lời kết
Qua những tìm hiểu và luận chứng ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng cách đọc "gia gia" từ các bậc tiền bối là hoàn toàn hợp tình hợp lý vì văn bản chữ Hán, Nôm truyền lại cũng như các bằng chứng về ngữ âm lẫn tiếng kêu của chim đa đa đã chứng minh một cách xác đáng. Sự cảm thụ cũng như nhận thức thấu đáo của tiền nhân về nghệ thuật dùng chữ của Bà Huyện Thanh Quan là đáng trân trọng. Chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm một vài ý quan trọng như tái khẳng định quan điểm của các tiền bối: Nhà thơ nhất định không viết chữ Nôm là 多多 hay [鳥 多] [鳥 多] (không hề có dị bản viết 多 hay [鳥 多]) nghĩa là từ chối âm đọc "đa đa" rất phổ biến trong tiếng Việt trước và ngay trong thời đại của mình nhưng đã chọn lựa tinh tế âm đọc "da da/gia gia" và viết chữ Nôm là [家鳥], 家 như muốn gợi ý cho người đọc liên tưởng ngay đến tiếng kêu "gia gia" của chim đa đa, hơn nữa, "gia" còn gợi ý niệm nhà và thể hiện sự ứng đối với "cuốc cuốc/quốc quốc" ở câu trên. Cho nên, cuối cùng, vẫn là CÁI GIA GIA, hiểu như một tên gọi khác của chim da da/ đa đa. Bằng chứng cho cách đọc GIA GIA chính là tiếng kêu "jiā", "gia" và "gia gia" của chim giá cô trong thư tịch Hoa - Việt và cách viết 家, [家鳥] trong văn bản chữ Nôm AB.383. Vậy thì, 2 câu thơ đặc sắc trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan xưa nay vẫn là:
"Nhớ nước đau lòng con QUỐC QUỐC.
Thương nhà mỏi miệng cái GIA GIA"
Rất mong rằng, bài viết này sẽ đem lại sự yên tâm và vẻ đẹp của thi ca đến với các bạn yêu thích thơ, văn học Việt Nam và các thầy cô cùng các sinh viên, học sinh.
Đinh Văn Tuấn
(Sông Hương 302/04-14)


[1] An Chi: Cái "gia gia" chẳng là... cái gì cả! (http://vienngonnguhoc.gov.vn). Vẫn cứ là cái đa đa (Tạp chí Đương Thời số 11/2009) (http://tunguyenhoc.blogspot.com). Không thể không là cái đa đa (http://www.vanhoahoc.vn). Không nên lẫn lộn các giống chim (http://nhavantphcm.com.vn).
[2] Nguyễn Quảng Tuân, "Cuốc cuốc - da da" hay "Quốc quốc - gia gia" (http://www.honvietquochoc.com.vn).
[3] Vương Trung Hiếu. Cái gia gia là ... cái nhà! (http://www.vanhoahoc.vn). Trao đổi về giống chim. (http://www.vanchuongviet.org).
Lại bàn về giống chim (http://www.vanchuongviet.org). Nam phong Tạp Chí số 5, 1917; số 7, 1918.
[4] Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, Nxb. Văn Học 2004.
[5] Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Nam thi hợp tuyển, Vĩnh Hưng Long Thư Quán, 1927, Xuất Bản Bốn Phương (Tái bản), 1952.
[6] Georges Cordier, Etude sur la littérature annamite, Saigon 1933.
[7] Ngô Tất Tố, Thi văn bình chú, Nxb. Văn Học, Trung tâm Văn hóa Đông tây (tái bản theo bản in lần đầu 1941). 2010.
[8] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử yếu, 1941, Chương thứ IV, Trung tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục (in lần thứ 10), Sàigòn, 1968.
[9] Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu (tập 1). Nhà Sách Vĩnh Bảo Sài Gòn 1949.
[10] Lệ Thần Trần Trọng Kim, Việt Thi, Nxb. Tân Việt. 1949.
[11] Nguyễn Tường Phượng - Phan Văn Sách - Bùi Hữu Sung, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX,. Tài Liệu Giáo Khoa, Hà Nội, 1953.
[12] Thanh Nghị, Việt Nam tân từ điển minh họa, nhà sách Khai Trí. 1967.
[13] Xem chú thích 1, An Chi.
[14] Đỗ Thị Hảo (chủ biên), Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH. 2010.
[15] Maurice Durand, Quốc văn tùng ký, AB.383 (nguồn http://findit.library.yale.edu).
[16] L.m An-tôn Trần Văn Kiệm, Giúp đọc Nôm và Hán Việt, Nxb Đà Nẵng & Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ, Đà Nẵng. 2004.
[17] Vũ Văn Kính, Đại tự điển chữ Nôm, NXB Văn Nghệ TPHCM 1999.
[18] Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Tự Điển Chữ Nôm, Nxb. Giáo Dục 2006.
[19] Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Đặng, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Uyên Thi, Tự điển chữ Nôm trích dẫn, Viện Việt Học ấn hành, 2009.
[20] P.J. Pigneaux, Dictionarium Anamitico - Latinum, (bản thảo viết tay) (1772 - 1773). Nguồn: bản pdf của NNT trong Diễn đàn VVH (viethoc.com).
[21] Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc âm tự vị, Tom I-II Sài Gòn 1895-1896, Nxb. Trẻ, tái bản 1998.
[22] Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển, Hà Nội, 1931, Mặc Lâm tái bản, 1968.
[23] Alexandro de Rhodes (1651), Dictionarivm Annnamiticvm Lvsitanvm et Latinvm, bản dịch tiếng Việt của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, Nxb. Khoa học Xã hội, 1991.
[24] Tam thiên tự giải dịch quốc ngữ (ký hiệu R.1667), Liễu Văn Đường Tàng Bản, khắc in năm 1915, (Nomfoundation.org).
[25] Nguyễn Bỉnh, Ngũ thiên tự dịch Quốc ngữ, bản khắc in năm 1909, ký hiệu R.1554 (Nomfoundation. org).
[26] Phan Đăng (dịch), Thơ văn Tự Đức (tập 3), Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1996.
[27] Lã Minh Hằng (khảo, phiên, dịch chú), Khảo sát từ điển song ngữ Hán -Việt, Đại Nam quốc ngữ (Nguyên bản Nguyễn Văn san), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013.
[28] J.F.M Génibrel, Dictionnaire Annamite - Français, Deuxième édition, Tân Định, Saigon 1898, nguồn sách phổ biến từ books.google.com.
[29] Nguyễn Ngọc San, Thử bàn về vấn đề phiên Nôm, Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm.2004, Thư viện Quốc gia Việt Nam - Hà Nội.
[30] Quách Tấn, Nét bút giai nhân, Nxb. Phụ Nữ 1998.
[31] Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Sự tích chim đa đa, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2000.
[32] Đỗ Đức Hiểu, Mai Thục, Nguyễn Văn Khỏa, Điển tích văn học: 100 truyện hay Đông Tây kim cổ, Nxb. Khoa Học Xã Hội - Mũi Cà Mau, 1990.
[33] Hán Điển, (nguồn http://www.zdic.net).
[34] Từ nguyên (tu đính bản) Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh 1998.
[35] Lã Minh Hằng (khảo, phiên, dịch chú), Khảo sát từ điển song ngữ Hán -Việt, Đại Nam quốc ngữ (Nguyên bản Nguyễn Văn san), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013.
[36] An Chi, Không thể không là cái đa đa, (nguồn: http://www.vanhoahoc.vn).
[37] Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên, Hồng Đức quốc âm thi tập, (in lần thứ hai có sửa chữa) Nxb. Văn học, Hà Nội., 1982.
[38] Tiếng chim cuốc kêu "cuốc cuốc" đã xuất hiện trong bài thơ "Lại vịnh nắng mùa hè" trong Hồng Đức quốc âm thi tập (sđd), ở câu: "Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mõ cuốc".

Friday, July 4, 2014

"Rác văn hóa" qua một số tác phẩm văn học dịch


Trong những năm qua, một "làn sóng" tiểu thuyết lãng mạn xuất xứ từ nhiều quốc gia đã được xuất bản ở Việt Nam; để rồi dường như tình trạng thái quá của loại sách này trên thị trường sách đã và đang trở thành một vấn đề phải được lưu tâm, không chỉ vì sự phát triển của văn học nước nhà, mà còn vì người đọc với tư cách là chủ thể tiếp nhận?
Hiện nay, tiểu thuyết nước ngoài được dịch sang tiếng Việt vô cùng đa dạng, phong phú. Tại nhiều cửa hiệu, quầy bán sách, tác phẩm văn học nước ngoài chiếm số lượng áp đảo, có nơi hơn hẳn đầu sách trong nước. Chưa bàn tới chất lượng bản dịch, chỉ nhìn bìa sách cũng có thể hình dung về nội dung các tiểu thuyết này. Theo quảng cáo của đơn vị xuất bản thì phần lớn trong đó là các tiểu thuyết đang ăn khách ở một số quốc gia. Về các tác giả thì được giới thiệu như nhà văn hàng đầu, là người "phi thường", thậm chí có khuynh hướng sống "lập dị". Đọc bìa bốn, bìa gấp của nhiều tiểu thuyết dịch sẽ rất dễ phấn hứng vì thấy thế giới hiện nay có nhiều "tượng đài văn học lớn"! Trong khi đó, tìm kiếm các tác phẩm văn học kinh điển thế giới được dịch sang tiếng Việt lại rất khó khăn. Nên nếu muốn đọc, nhiều người phải tìm đến cửa hàng sách cũ. Các cửa hàng sách cũ làm liên tưởng tới một nét đẹp văn hóa, đồng thời lại làm liên tưởng tới một thực tế đáng buồn là nhiều tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng vẫn được người đọc và giới nghiên cứu, phê bình trên thế giới tìm đọc và ca ngợi,... lại như mất hút ở Việt Nam!
Gần chục năm trước, báo chí và giới xuất bản không ngớt lời ca ngợi cái gọi là "dòng văn học Ling Lei"; khi không còn ai nhắc đến Miên Miên, Vệ Tuệ,... nữa thì họ chuyển sang dịch, xuất bản, ca ngợi... truyện ngôn tình! Lý giải về tình trạng tiểu thuyết tình cảm dễ dãi được dịch và xuất bản tràn lan, người thì cho rằng điều đó phản ánh thực tế chung của văn học toàn cầu; người lấy sự bùng nổ của tiểu thuyết lãng mạn trên mạng xã hội Trung Hoa làm minh chứng và coi đó là hiện tượng gần gũi với Việt Nam (!). Có người coi sự phát triển của tiểu thuyết thị dân, tiểu thuyết bình dân là xu hướng tất yếu của văn học hiện đại; thậm chí có một nhà nghiên cứu ví von đó là biểu hiện "ngoại biên hóa" nhằm thay thế tiểu thuyết chính thống, kinh điển (!). Đó là chưa nói có người mượn quá trình hình thành của tiểu thuyết từ "cận văn học" tới vị trí hiện tại trong văn học để biện hộ... Nhìn chung nhận xét, đánh giá trên đây nếu không phải là nhầm lẫn, thiếu tính xây dựng thì cũng là thiếu trách nhiệm với sự phát triển văn học, với người đọc. Dù các thể loại trữ tình lãng mạn, chuyện hiệp sĩ, anh hùng, thần ma có là khởi nguồn của tiểu thuyết, thì tiểu thuyết chỉ trở thành thể loại chính thống của văn học khi nhà văn nhận ra tính "sử thi của đời tư" Bê-lin-xki (Belinski) có khả năng bao quát nhiều vấn đề trong cuộc sống, từ đó đúc kết những chiêm nghiệm, đánh giá cá nhân. Theo nhiều nhà nghiên cứu văn học, tiểu thuyết đích thực đầu tiên của châu Âu là Đôn Ki-hô-tê(Don Quixote) của Xéc-van-tét (Cervantes), dù sáng tác văn học mang khuynh hướng tiểu thuyết có thể đã bắt đầu từ thời Hy Lạp cổ đại; tình trạng tương tự cũng xảy ra ở phương Đông, như với Trung Quốc, Nhật Bản. Trải qua hàng nghìn năm, tiểu thuyết bình dân vẫn tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của một bộ phận công chúng nhất định, nhưng không bao giờ có thể đưa tới các giá trị như văn học đích thực. Thêm nữa, phải chăng việc coi sự tồn tại của tiểu thuyết bình dân như sự tồn tại "mỹ học của cái khác" cũng chỉ là thủ pháp vay mượn một khái niệm không có nội hàm tương ứng để bao biện?
Xét cho cùng thì lợi nhuận mới là lý do khiến nhiều đơn vị xuất bản ở Việt Nam lơi là nhiệm vụ truyền bá văn hóa, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên đi hiểm họa khôn lường. Theo Công ước Bécnơ (Berne), chi phí để mua bản quyền tiểu thuyết thuộc loại kinh điển của thế giới là khá thấp, có cuốn gần như cho không. Nhưng có lẽ do việc tổ chức dịch thuật phức tạp nên nhiều đơn vị xuất bản không muốn thực hiện. Trường hợp Alphabooks dịch và xuất bản các tác phẩm lớn về triết học, văn học, Công ty Nhã Nam có riêng sách kinh điển, NXB Trẻ có tủ sách "Cánh cửa mở rộng" hiện rất hiếm hoi. Dịch và xuất bản tiểu thuyết được coi là đang "ăn khách" trên thế giới cũng rất ít được quan tâm, vì tuy mang lại lợi nhuận cao nhưng chi phí bản quyền các sách này khá lớn. Việc Công ty Bách Việt mua bản quyền cuốn Hỏa ngục, NXB Trẻ mua bản quyền cuốn He-ri Pót-tơ (Harry Potter) cũng rất hạn hữu. Các đơn vị xuất bản chủ yếu sống nhờ vào việc mua bản quyền loại tiểu thuyết lãng mạn "sến" không được đánh giá cao tại Trung Quốc, Đài Loan. Nhưng nhờ vào các chiến dịch quảng cáo và nhờ vào cả thói quen có phần dễ dãi của một bộ phận người đọc mà các cuốn sách này vẫn cứ "ngắc ngoải" tại Việt Nam thêm một thời gian nữa, trong khi ngay ở nơi sinh ra, chúng đã bị rơi vào quên lãng!
Đến từ nhiều nước khác nhau, nhưng điểm chung của các tiểu thuyết này là "chủ nghĩa mủi lòng" (chữ của nhà phê bình Hoài Nam); vì thường là câu chuyện tình yêu qua nhiều sóng gió, éo le và bi hài nhưng kết thúc trọn vẹn. Làm mủi lòng cho người đọc bằng câu chuyện theo mô-típ "sến" như vậy, các tiểu thuyết này sớm phải nhường chỗ cho những cuốn có lối viết "câu khách" hơn. Nên dẫu có thay đổi không gian quá khứ hay hiện tại, huyền ảo hay thần bí, chúng vẫn không mang tải giá trị nhiều hơn tiểu thuyết của Quỳnh Dao, Xít-ni Xây-đơn (Sydney Sheidon) từng làm mưa, làm gió trên thị trường sách Việt Nam trong các thập niên cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên, Xít-ni Xây-đơn, Quỳnh Dao là các nhà văn có định hướng độc giả riêng; họ có sự đầu tư, nghiên cứu, tìm tòi để huy động kiến thức văn hóa, lịch sử, khoa học vào tác phẩm. Họ khác với hầu hết tác giả được các đơn vị xuất bản ở Việt Nam tuyển dịch ồ ạt hiện nay. Bởi các tác giả này thường chuyên chú viết dựa vào bản năng hơn là dựa vào suy nghĩ và chiêm nghiệm chín chắn. Họ có thể viết bất kỳ điều gì miễn là lôi kéo được độc giả về phía mình. Họ ít quan tâm trau chuốt, rèn luyện kỹ năng viết, một vài người còn khai thác đề tài sex, mà bộ tiểu thuyết 50 sắc tháilà một thí dụ. Tuy là nội dung tục tĩu với nhiều đoạn mô tả về sex, song lý do để nhiều người trên thế giới tìm đọc cuốn sách này là do quảng cáo quá đà của truyền thông. Nên tờ The New York Timeskhông e dè khi coi đây là một tiểu thuyết khiêu dâm, nhiều độc giả nước ngoài cũng cùng chung nhận định: 50 sắc thái là cuốn sách "hợp pháp hóa" những thứ tình dục bệnh hoạn; nhiều người cũng cho rằng mình bị mắc lừa khi mua cuốn sách. Vậy nhưng, 50 sắc tháivẫn được mua bản quyền và xuất bản tại Việt Nam với lời đánh giá có cánh trên bìa. Chẳng lẽ nơi dịch, in và xuất bản lại không biết về các đánh giá khen - chê trên thế giới về cuốn tiểu thuyết này?
Sự có mặt của loại tiểu thuyết lãng mạn dễ dãi của nước ngoài ở Việt Nam không chỉ lấn át tiểu thuyết chính thống, kinh điển của Việt Nam và thế giới; mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới người đọc và người muốn theo nghiệp văn. Với người đọc, các cuốn sách như vậy dễ đưa tới quan niệm lầm lạc về cuộc sống, đánh giá theo hướng bi quan. Ở nước ngoài, tiểu thuyết lãng mạn được quy định chặt chẽ về lứa tuổi, nếu vi phạm quy định sẽ phải nhận mức xử phạt rất nặng. Tuy nhiên, điều này hầu như không tồn tại ở Việt Nam, hoặc nếu có thì chỉ thể hiện qua ghi chú rất mập mờ: sách dành cho lứa tuổi mới lớn, nội dung nhạy cảm độc giả cần cân nhắc trước khi xem! Chưa nói chất lượng bản dịch loại tiểu thuyết này thường rất tệ. Do phải dịch nhanh để đáp ứng nhu cầu, tránh tình trạng có người tự dịch rồi đưa lên mạng trước, người ta tiến hành dịch một cách cẩu thả, tối nghĩa. Còn với một số tác giả, không ai cấm họ viết văn, nhưng viết tiểu thuyết lãng mạn bình dân như đang khiến họ nhận thức sai lầm về lao động nhà văn. Thường thì điểm xuất phát của một số cây bút trẻ viết truyện ngôn tình ở Việt Nam là "nghiện" loại tiểu thuyết này đến từ nước ngoài. Rồi họ mô phỏng theo tiểu thuyết ngôn tình khi sách dịch không còn đáp ứng được nhu cầu của họ. Họ nhận thấy lợi nhuận từ công việc trên, từ đó họ trở thành người viết truyện "ngôn tình". Vài năm trước, tác giả như thế còn thấy e ngại hay tức tối khi bị so sánh hoặc bị coi có phong cách, lối viết gần gũi với tác giả nước ngoài.
Càng gần đây, một số cây bút trẻ viết tiểu thuyết lãng mạn cũng "lên ngôi" trên một số diễn đàn, xuất hiện tại một vài sự kiện văn hóa. Từ chỗ tự nhận nghiệp dư, tay ngang, chỉ được biết tới qua nickname ảo, giờ họ đã bắt đầu ngộ nhận về "tài năng", bắt đầu phát ngôn. Dù sách của họ chỉ là mô phỏng mô-típ quen thuộc của tiểu thuyết nước ngoài, vốn từ hạn chế, vụng về trong câu văn, ngữ pháp,... nhưng xem ra ảo tưởng của họ khá lớn. Không chỉ viết mà họ còn rất chăm chú thiết kế bìa sách, rồi đi giới thiệu sách, quảng bá sách, trả lời phỏng vấn, lên intơ-nét thông báo lịch ký sách, hẹn gặp gỡ độc giả. Và đáng tiếc, chính báo chí đã giúp họ trở thành "tài năng văn chương" mà không cần biết điều quan trọng nhất đối với mỗi cuốn sách phải là giá trị tư tưởng - nghệ thuật và sức sống lâu bền. Một xu hướng viết tiểu thuyết ngôn tình dễ dãi đã hình thành tại Việt Nam, không còn là tự phát như cách đây vài năm? Sẽ thấy câu hỏi này là có lý khi nhìn vào sự "thắng thế" của truyện ngôn tình, đó thật sự là điều rất đáng lo ngại, không chỉ lo ngại cho văn học, mà lo ngại cho cả người đọc.
Dịch thuật, truyền bá các tác phẩm văn chương có giá trị của thế giới là công việc phải khuyến khích. Không ai có thể phủ nhận trong những năm tháng trước đây, nhiều tác phẩm dịch đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn các thế hệ người Việt Nam; cũng là nguồn cảm hứng, gợi mở chân trời sáng tạo cho các nhà văn, nhà thơ. Song hôm nay, vì lợi nhuận mà dịch các cuốn sách vốn bị xem là "rác văn hóa", là tác phẩm khiêu dâm của nước ngoài lại là hành vi đáng lên án. Nhất là khi, việc làm này được sự hỗ trợ của các chiến dịch quảng bá, các bài giới thiệu hoặc điểm sách chỉ nhằm đánh lừa người đọc. Tiếp xúc với nhiều nền văn học trên thế giới, người đọc có thể thỏa mãn nhu cầu đọc và mở mang kiến thức; nhưng sự tràn lan, lẫn lộn của thị trường lại là điều cần sớm giải quyết.
Việt Quang
(Theo Nhân dân)

Monday, June 30, 2014

Mục từ Nguyễn Lân: Wikipedia đã sửa đổi gì?


Cuối ngày 24/06/2014, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mục từ Nguyễn Lân đã được sửa chữa với dòng ghi chú: “Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 15:14, ngày 24 tháng 6 năm 2014”.

Vậy, Wikipedia đã “sửa đổi” những gì về Nguyễn Lân? Nếu bạn đọc không lưu nội dung sẽ khó so sánh trang Nguyễn Lân cũ (trước 15 giờ 14 phút ngày 24/6/2014) với trang Nguyễn Lân mới (sau 15 giờ 14 phút ngày 24/6/2014) của Wikipedia. 
Vì có nội dung của Wikipedia trước đây nên chúng tôi nhận thấy những thông tin về tiểu sử, đánh giá về Nguyễn Lân đã có sự thay đổi căn bản. Xin đưa ra một số so sánh ví dụ:
- Wikipedia-Nguyễn Lân cũ (Wikipedia-NL cũ):
+ “Nguyễn Lân (1906-2003) là Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, nhà biên soạn từ điển, Học giả nổi tiếng của Việt Nam”.
- Wikipedia-Nguyễn Lân mới (Wikipedia-NL mới):
+ “Nguyễn Lân (14 tháng 6 năm 1906 – 7 tháng 8 năm 2003) là giáo sư (mang nghĩa thầy giáo - trước 1945, những người làm nghề dạy học đều được gọi là giáo sư), Nhà giáo nhân dân, nhà biên soạn từ điển.”

Ở đoạn này, những phát hiện, khảo chứng và lý giải trong các bài Góp phần tìm hiểu sự thật về giáo sư Nguyễn Lân của Lê Mạnh Chiến và “Giáo sư tự phong bao giờ trống đánh mõ rao...?” của Hoàng Tuấn Công đã được Wikipedia cập nhật và thay đổi cách hiểu danh từ “Giáo sư” trong “Giáo sư Nguyễn Lân”. Riêng cụm từ danh quá kỳ thực “học giả nổi tiếng Việt Nam” với nghĩa tích cực cũng đã được bỏ đi. Tuy nhiên theo chúng tôi, đoạn mở ngoặc: “giáo sư (mang nghĩa thầy giáo - trước 1945, những người làm nghề dạy học đều được gọi là giáo sư)” lẽ ra Wikipedia nên viết rõ hơn: “trước 1945, những người làm nghề dạy học từ cấp Trung học trở lên đều được gọi là giáo sư”. Bởi như chúng tôi đã nói trong bài “Giáo sư tự phong-bao giờ trống đánh mõ rao?”, nếu dạy cấp Tiểu học gọi là hương sư (thầy giáo làng) chứ không được gọi là giáo sư.

- Wikipedia-NL cũ:
+ “Năm 1927: Ông thi đỗ Thủ khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương.”
- Wikipedia-NL mới:
+ “Năm 1929: Ông thi đỗ vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương.”
Mốc thời gian 1927 đã được thay bằng 1929, cụm từ “đỗ thủ khoa” đã được bỏ.
- Wikipedia-NL cũ:
+Năm 1932: Ông dạy tại Trường Hồng Bàng, sau đó làm giám học và dạy 2 môn văn, sử tại Trường Thăng Long. Tại Trường Tư thục Thăng Long, cùng với các nhà giáo giỏi như Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Bình... , ông đã đào tạo ra những tú tài xuất sắc cho Việt Nam.
- Wikipedia-NL mới:
+ “Năm 1932: Ông dạy tại Trường Hồng Bàng, sau đó làm giám học và dạy 2 môn văn, sử tại Trường Thăng Long”.
Đoạn “ông đã đào tạo ra những tú tài xuất sắc cho Việt Nam” đã bỏ.
- Wikipedia-NL cũ:
+Năm1956: Ông về dạy tại khoa tâm lý giáo dục của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông cùng với các nhà giáo nổi tiếng và xuất sắc khác như: Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Ngụy Như Kon Tum, Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn... là lớp người đầu tiên được nhà nước Việt Nam phong Học hàm Giáo sư.
- Wikipedia-NL mới:
+ Ông về dạy tại khoa tâm lý giáo dục của trường Đại học Sư phạm Hà Nội”.
Toàn bộ phần chữ đỏ gạch chân liên quan đến chuyện “là lớp người đầu tiên được nhà nước Việt Nam phong Học hàm Giáo sư” của Nguyễn Lân đã được gỡ bỏ. Đây cũng chính là kết quả bài khảo chứng của Lê Mạnh Chiến.
- Wikipedia-NL mới:
Mục  “Tiểu sử và quá trình công tác” sau khi kể tên một số công trình từ điển của Nguyễn Lân, Wikipedia-NL mới đã đưa thêm một câu rất quan trọng, thể hiện cách nhìn nhận mới về từ điển của Nguyễn Lân: “Tuy vậy hiện nay đang có nhiều nhà nghiên cứu đã cho công bố nhiều sai sót trong các quyển từ điển này”.
v.v...
Như vậy, có thể thấy, những sửa đổi thông tin về Nguyễn Lân của  Wikipedia đã dựa vào kết quả các bài nghiên cứu, phê bình, khảo chứng công phu của hai tác giả Lê Mạnh Chiến và Hoàng Tuấn Công trên các trang mạng xã hội gần đây, mà tiêu biểu là các bài gốc trên Blog Quê Choa và Tuấn Công Thư Phòng (dĩ nhiên không thể không kể đến đóng góp của Huệ Thiên trước đây)
Vậy, việc Wikipedia sửa đổi nội dung về Nguyễn Lân theo hướng đúng với sự thật có ý nghĩa như thế nào? Theo chúng tôi điều này rất có ý nghĩa. Bởi“Wikipedia là một bách khoa toàn thư tự do, là kết quả của sự cộng tác của chính những người đọc từ khắp nơi trên thế giới” (Lời giới thiệu củaWikipedia). Bởi vậy, nội dung mà Wikipedia đề cập chính là phản ánh sự hiểu biết, cách nhìn nhận, đánh giá về vấn đề nào đó của bạn đọc. Nội dung khái niệm ấy không phải “từ trên trời rơi xuống” mà được bạn đọc đóng góp, thảo luận, trích dẫn, chắt lọc từ rất nhiều nguồn tài liệu, sách báo và được quản trị của Wikipedia biên tập, cập nhật (nhiều mục từ khá công phu, khoa học). Hiện nay còn nhiều ý kiến cho rằng: không nên hoặc cần thận trọng khi tham khảo và trích dẫn Wikipedia, vì đây là dạng từ điển mở, không có ai chịu trách nhiệm về những thông tin được đề cập trong đó. Sự thận trọng này là cần thiết. Tuy nhiên chúng ta lại phải thấy rằng, ngay cả loại sách công cụ có tên tác giả, nhà xuất bản, có quy trình biên tập và giấy phép xuất bản hẳn hoi nhưng sai vẫn cứ sai (Từ điển của Nguyễn Lân là ví dụ nhãn tiền). Bởi vậy, sử dụng từ điển xuất bản hay từ điển dạng Wikipedia thế nào cho hiệu quả còn phụ thuộc vào trình độ của người sử dụng[1].

Trở lại vấn đề Nguyễn Lân. Ngay từ năm 1998, khi Nguyễn Lân đang dồn tâm huyết biên soạn công trình “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”, Huệ Thiên đã có bài viết chỉ ra một số sai sót trong “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân (Những sai khó ngờ trong “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam”)

Sau khi Nguyễn Lân xuất bản “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”, (2000) Huệ Thiên tiếp tục góp ý về những sai sót của cuốn từ điển này (khi Nguyễn Lân còn sống). Sau khi Nguyễn Lân mất (2003) Lê Mạnh Chiến lại có loạt bài viết vạch ra những cái sai nghiêm trọng trong “Từ điển từ và ngữ Hán Việt” của Nguyễn Lân. Với Huệ Thiên, sinh thời, Nguyễn Lân tỏ ra không phục, tìm cách chặn lại và cho rằng Huệ Thiên đã “nhận xét sai lệch” và “mắc sai lầm”, đồng thời kêu gọi độc giả “đánh giá khả năng và tư cách” của Huệ Thiên (!) (Đọc lướt từ điển từ và ngữ Việt Nam-Huệ Thiên). Với Lê Mạnh Chiến, tuy các bài viết được công bố sau khi Nguyễn Lân mất nhưng vẫn bị người khác tìm cách ngăn chặn. Các bài viết của Huệ Thiên, Lê Mạnh Chiến vốn đăng ở các tạp chí và sách xuất bản nên mức độ lan tỏa tới độc giả rất hạn chế. Mặt khác người ta vẫn lầm tưởng, sự sai sót, mức độ sai sót của Nguyễn Lân chỉ có vậy (gói gọn trong các bài viết đó). Và cho rằng đó là những sai sót không thể tránh khỏi, sai sót thường thấy trong nhiều cuốn sách khác. Thế nên sách từ điển của “GS Nguyễn Lân” vẫn tiếp tục được tái bản với số lượng ngày càng lớn hơn. Nguyễn Lân và tác phẩm của Nguyễn Lân ngày càng được ca ngợi, đánh giá cao hơn. Đỉnh điểm là cuộc hội thảo “NGND.GS Nguyễn Lân-cuộc đời và sự nghiệp” tổ chức tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (2013) và Thành phố Hà Nội có kế hoạch đặt tên đường Nguyễn Lân.

Năm 2010, Hoàng Tuấn Công bắt đầu viết về Nguyễn Lân với ý định xuất bản sách. Đến cuối năm 2013, sau khi nhiều tạp chí từ chối trích đăng, loạt bài phê bình từ điển của Nguyễn Lân có hệ thống nhất từ trước tới nay (chừng 250 trang viết) bắt đầu đăng trên Blog Tuấn Công Thư Phòng (tháng 9/2013) và Blog Quê Choa (tháng 11/2013), đồng thời Lê Mạnh Chiến cũng đăng lại bài  Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt (cũng trên Quê Choa và một số trang mạng khác). Và ròng rã hơn nửa năm qua, Quê Choa đã đăng hàng chục bài viết phê bình các cuốn từ điển của GS Nguyễn Lân với hàng trăm trang, mức độ lan tỏa tới độc giả nhanh chưa từng có (đây là cả một công phu, trách nhiệm của Quê Choa). Tin lành đồn xa, tin dữ cũng đồn xa. Hàng triệu lượt người đã đọc hoặc biết tới những bài viết này (Nhân đây cũng xin cảm ơn các Blog và FB đã chia sẻ, đăng lại loạt bài phê bình này của Hoàng Tuấn Công và Lê Mạnh Chiến, góp phần bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt.)

Vậy là đã 26 năm Nguyễn Lân xuất bản sách "Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam", 16 năm kể từ ngày Huệ Thiên có bài viết đầu tiên (1998) tiếp đến Lê Mạnh Chiến rồi hậu sinh Hoàng Tuấn Công, đến nay (2014), nghiệm ra cái chuyện “người lái đò nhỏ chở con thuyền SỰ THẬT” của Bọ Lập đã bắt đầu “cập bến”. Tác dụng của loạt bài phê bình từ điển Nguyễn Lân tới nhận thức của độc giả rất khó cân đong đo đếm. Bởi vậy, sự thay đổi của Wikipedia trở thành biểu hiện cụ thể nhất nhận thức mới của bạn đọc, xã hội về tác giả, tác phẩm của Nhà biên soạn từ điển Nguyễn Lân.

Tuy nhiên, hiện nay các sách từ điển nhiều sai sót của GS Nguyễn Lân vẫn đang được bày bán rộng rãi tại cách Nhà sách lớn trong toàn quốc. Dường như không có ai để ý hay chịu trách nhiệm gì về nó. Do đó, để ngày càng có nhiều độc giả nhận biết, không tiền mất tật mang vì các cuốn từ điển “có hại cho tiếng Việt” này, sự thật cần được tiếp tục lên tiếng.

Mới hay cái sai, cái giả dối bao giờ cũng rất ngoan cố, lì lợm. Và để đến được “bến bờ sự thật”, hành trình sóng gió của những “chuyến đò nhỏ” quả không đơn giản, dễ dàng chút nào !
29/6/2014
Hoàng Tuấn Công



[1]  Chúng tôi có thể lấy một ví dụ nhỏ:

Mục từ Lê Trung Nghĩa – Wikipedia tiếng Việt cho biết văn bia ở đền thờ Quận Mãn (tức Lê Trung Nghĩa) do Lê Quý Thuần, con Lê Quý Đôn soạn. Tuy nhiên sách “Đại Nam nhất thống chí” (Quốc sử quán triều Nguyễn-Tổng tài Cao Xuân Dục-Bản dịch Hoàng Văn Lâu-NXB Lao động-2012) lại cho rằng tấm bia ở lăng Quận Mãn là do “Thuần Trung hầu Lê Quý Đôn soạn”. Vậy chúng ta sẽ tin vào tài liệu nào? Theo lẽ thông thường chúng ta sẽ tin “Đại Nam nhất thống chí” vì đây là “bộ tổng tập địa chí các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương của nước Đại Nam cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20” (Lời giới thiệu) được biên soạn, dịch, xuất bản rất công phu. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này, theo chúng tôi “anh chàng trẻ tuổi Wikipedia” lại đáng tin hơn “cụ Đại Nam nhất thống chí”, bởi “Đại Nam nhất thống chí” đã nhầm, hay nói đúng hơn người dịch cuốn địa chí này đã nhầm: Người soạn nội dung tấm bia Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa là Lê Quý Thuần - con của Lê Quý Đôn chứ không phải Lê Quý Đôn. Chỉ cần nêu một lý do đơn giản: Lê Quý Đôn mất năm 1784, trong khi Lê Trung Nghĩa mất (chết trận) năm 1786. Giả sử tấm bia được lập ngay sau khi Quận Mãn mất thì một người đã chết trước đó hai năm có sống lại để soạn văn bia cho người vừa chết? (Tại sao người dịch “Đại Nam nhất thống chí” có sự nhầm lẫn này, chúng tôi sẽ có bài viết trên Tuấn Công thư phòng.)

Cũng cần nói thêm, với  Wikipedia, chỉ cần một động tác “kích chuột” là có thể bổ sung, sửa chữa những sai lầm khi nhìn nhận, đánh giá về Nguyễn Lân hoặc nhiều vấn đề khác. Trong khi đó, với sách báo đã xuất bản, thật khó có thể nói đến chuyện đi thu hồi hoặc đính chính, sửa chữa cho hết những sai lầm đã trót in ra và phát hành.
Ví dụ nhỏ trên đây cho thấy dù sao chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, nếu biết cách sử dụng, Wikipedia thực sự là một “kênh” thông tin tham khảo nhanh chóng, tiện lợi, bổ ích.