Tuesday, November 11, 2014

Hoa Ti-gôn

Thanh Châu

Hoa "Tigôn" bà đầm! "Tigôn" bà đầm! "Ơi dê" bà đầm! Cái "chợ hoa" ở phố Tràng Tiền, cạnh Hồ Gươm, làm tăng vẻ tươi thắm, mỹ miều cho Hà thành nhiều lắm. Một buổi sáng mùa thu, không gì thú bằng đứng nhìn những thiếu nữ đẹp như hoa, tha thướt đi chọn hoa, những người đàn bà Pháp áo màu rực rỡ đi qua lại đó, một đôi khi, một vài chàng trai trẻ nữa, có lúc người ta còn thấy cả những ông già cũng đến đó "hỏi thăm hoa". Thực là một cảnh tượng tưng bừng, trẻ trung gợi cảm. Tiếng mời chào của các cô hàng hoa vui vẻ như lưu luyến khách, ríu rít như chim họp chuyện buổi mai:
- "Ơi dê" bà đầm! "Viôlét" bà đầm!
Mỗi mùa lại một tên hoa: hết sen thì đến cúc, thược dược, hết trà lại đến cẩm nhung, huệ trắng, hướng dương..., những cái tên êm ái như tên thiếu nữ. Nhưng có ai nghĩ rằng: những bông hoa mà các cô hàng tươi trẻ buộc gói nhanh thoăn thoắt, đưa trả khách mua, những bông hoa đó sẽ về đâu? Có những bông sẽ được cắm vào những chiếc lọ pha lê quý giá, đặt trong một gian phòng khách êm đềm, được những bà nội trợ nhẹ tay sắp đặt cho có vẻ dễ thương, để mong làm đẹp lòng người chồng sắp sửa ở những chỗ làm ăn vất vả trở về, mệt nhọc. Có những bông sẽ được lọt vào tay những chàng trẻ tuổi, những thiếu nữ mới biết yêu, những bông đó thực là có diễm phúc, vì chúng nó sẽ được nâng niu, trân trọng, quý báu vô vàn, chúng nó sẽ được để bên giường ngủ, trên bàn học. Và lúc tàn rồi, người ta cũng không nỡ vứt nó ra ngoài rãnh, người ta sẽ bỏ cánh hoa rơi vào hộp mà cất kỹ dưới đáy hòm, trong góc tủ, để lúc "già rồi" hay đến lúc hết "yêu nhau" người ta mới lục ra để mà rỏ lệ vào đấy..., như trong tiểu thuyết. Cũng có những bông đi ra ngoài nghĩa địa, mang đi bởi những bàn tay gầy, trắng, của những người đàn bà góa đương còn trẻ, để đặt lên mồ của những ông chồng bất hạnh, và để nhắc cho những ông chồng ấy hiểu rằng: "Em chẳng bao giờ quên anh được... nhưng, đời đẹp lắm! Em sắp lấy chồng đây!" Lại cũng có những bông hoa đã an ủi được nhiều linh hồn cô quạnh, linh hồn khắc khoải của những kẻ chung tình đến chết vẫn còn yêu, những kẻ vì yêu mà chết!
Như những bông hoa "Tigôn" mà họa sư Lê Chất đã đặt trên mồ Mai Hạnh, đã cắm trong phòng vẽ suốt một mùa thu.
*
* *
Sáng nào cũng vậy, hết giờ dạy vẽ ở trường Mỹ thuật về qua phố Tràng Tiền, họa sư Lê cũng không quên mua một bó "Tigôn". Đó là cái thói quen của họa sư mà không một người bạn hay một người học trò nào thân là không biết rõ. Đến mùa hoa "Tigôn" nở nhiều nhất, thì trong nhà họa sư Lê, người ta chẳng còn thấy một thứ hoa nào khác nữa. Và có người nào tẩn mẩn ngắt một nụ hoa nho nhỏ ấy xem thực kỹ càng, người ta sẽ phải cho lời nhận xét của họa sư là đúng: "Hoa "Tigôn" hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu hồng dịu như nhuộm máu đào. Rồi người ta phải tự hỏi thầm:
- Tại sao họa sư Lê lại thích chơi cái thứ hoa trông như giấy ấy, để trong phòng quá một ngày đã rụng rồi? Chắc lại có điều tâm sự chi đây...
*
* *
Một buổi trưa - hồi đó Lê Chất 24 tuổi, còn là một họa sĩ nghèo mới ở trường ra - một buổi trưa đạp xe về các vùng lân cận Hà thành, họa sĩ Chất rẽ vào làng Mọc với cái giá vẽ buộc trước xe. Người thiếu niên ấy vừa huýt sáo vừa đi tìm cảnh đẹp. Mà cảnh đẹp đây là một thiếu nữ yêu kiều chàng mới gặp chiều qua.
Đến gần một ngôi nhà cũ kỹ trông ra dáng biệt thự của một vị hưu quan dùng làm chỗ nghỉ ngơi, Chất hãm xe lại, và nghển cổ nhìn qua một cái hàng rào cây xanh tối um tùm. Chiều qua, lúc Chất sắp đạp xe rất nhanh qua đó, tình cờ liếc mắt vào nhà, chàng thấy một thiếu nữ đương đứng trên một chiếc ghế cao, với tay lên những dây hoa đỏ trên giàn nứa. Người con gái mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ một lớp da hung hung khỏe mạnh, thứ da được phơi nắng của những cô gái nhỏ. Hai má người ấy đỏ hồng, vài sợi tóc tỏa trên vừng trán. Cảnh "con gái hái hoa" ấy như một bức tranh linh động, khiến thiếu niên họa sĩ phải dừng chân ngắm không chán mắt. Cái khuôn mặt đều đặn: một vẻ đẹp cao quý vô cùng, nhất là đôi môi có một nét vẽ lạ, mà Lê Chất chưa được trông thấy ở khuôn mặt một người thiếu nữ cùng nòi giống bao giờ. Lớp môi trên mỏng, thực mỏng như là có một bàn tay cố ý làm ra thế, còn môi dưới thì chề ra, hơi sưng sưng, như một thứ quả chín ngon lành khiến ai trông thấy cũng phải thèm thuồng ao ước. Đó là thứ nhan sắc rất hiếm hoi, người ta trông thấy một lần là phải ghi sâu trong tâm tưởng. Thiếu nữ vô tình, bận gỡ những dây hoa leo trên giàn, đã để cho Lê Chất có thì giờ nhìn ngắm kỹ. Đến khi nàng bước xuống đất, sắp vào nhà, đưa mắt ra đường, trông thấy có người đứng nhìn mình mới cau mày tỏ vẻ không bằng lòng con người bất lịch sự.
Nhưng từ đó, hôm nào họa sĩ cũng đạp xe vào làng Mọc, giá vẽ buộc trên xe, mà chẳng vẽ bao giờ, vì còn bận quanh quẩn gần biệt thự. Thiếu nữ động thấy bóng chàng là lẩn vào nhà. Lê Chất được gặp nàng vài lần nữa rồi thôi, mà ngôi nhà hình như không có chủ nhân ở nữa, ngày nào cũng chỉ thấy có một ông lão già cuốc cỏ ở trong vườn.
Rõ lâu, Lê Chất mơ màng đến người thiếu nữ ấy. Chàng cố nhớ lại khuôn mặt, thân hình, hai cánh tay đẹp để trần, nhất là đôi môi của thiếu nữ. Chàng vẽ nhiều bức "croquis" trong tập "album" của chàng để ghi lấy những nét đẹp của người mình mơ màng..., rồi dần dần cũng quên nàng...
*
* *
Lê Chất đã nổi tiếng. Thày học cũ của chàng vì mến tài chàng đã đưa chàng lên một địa vị mà nhiều kẻ phải ghen. Tranh của chàng được nhiều báo nước ngoài nói đến và bán giá rất cao. Là vì Lê Chất đã biết bỏ lối phong cảnh để vẽ người, tranh vẽ người của chàng, nhất là tranh vẽ đàn bà đã khiến các bạn chàng tặng chàng cái tên: "Người lấy máu để vẽ các cô gái đẹp". Chàng đã trở nên giàu có, ăn mặc rất sang, và rất khó tính, chàng đã đứng tuổi, đã lâu chàng không còn là gã họa sĩ nghèo, vui tươi, huýt sáo đi tìm cảnh đẹp quanh vùng lân cận Hà thành, giá vẽ buộc trên xe nữa.
Một mùa lạnh, Lê Chất đi vẽ ở vùng Vân Nam phủ, trong một bữa tiệc khiêu vũ ở tòa lãnh sự Pháp, chàng trông thấy một thiếu phụ An Nam đẹp, một vẻ đẹp buồn có dáng cao kỳ, kiêu ngạo. Chàng nhớ ra là đã gặp người ấy một lần. Ở đâu? Bỗng nhiên Lê Chất rùng mình. Tám năm rồi, nhưng quên làm sao được khuôn mặt ấy, đôi môi ấy? Lê Chất nhờ một người bạn quen giới thiệu: thiếu phụ là vợ một viên chức trong tòa lãnh sự, nói tiếng Pháp rất thông. Trong một bản "tango", đột nhiên Lê Chất hỏi thiếu phụ:
- Bà vẫn thích hoa "Tigôn" chứ?
Thiếu phụ nhìn chàng rất ngạc nhiên:
- Ông nói gì, tôi không được hiểu.
- Có lẽ bà đã quên cả Hà thành..., làng Mọc..., cái biệt thự xinh xinh có một giàn hoa...
Người đàn bà ấy kêu lên, mắt long lanh:
- Có phải ông là cái anh chàng họa sĩ vẫn thường rình tôi ngày trước đó không? Thảo nào mới nhìn thấy ông tôi cũng tự nghĩ không biết đã gặp ở đâu. Tám, chín năm rồi đấy! Thế mà chúng ta còn nhận được nhau.
Mai Hạnh - tên thiếu phụ rất buồn rầu ở Vân Nam phủ. Nàng không có bạn nữa, nàng đã lấy một người chồng gia thế cân đối với nhà nàng, cuộc đời rất bằng phẳng nơi đất khách. Đến giờ, gặp được người cùng xứ, - người đó lại dự vào dĩ vãng tươi đẹp của nàng - một họa sĩ nổi danh, nàng không có cảm tình với Lê Chất làm sao được? Nàng thường đến chỗ chàng ở trọ thăm chàng, và thuận ngồi cho chàng vẽ một bức tranh.
Một buổi sáng, hai người đi thăm một cảnh chùa Tàu cheo leo trên một đỉnh núi, Lê Chất nói với nàng:
- Tôi biết thể nào trong đời tôi cũng còn gặp Hạnh, bởi vì tôi vẫn không bao giờ quên cái buổi chiều ở làng Mọc. Nhưng số mệnh khiến chúng ta gặp nhau lần này có phải là để chúng ta chỉ có thể thành một đôi bạn mà thôi ư? Hạnh có đoán được lòng tôi lúc này không?
Mai Hạnh, giọng run run và mặt tái nhợt, giơ tay bịt miệng Lê Chất lại. Lê Chất ôm lấy nàng, nàng không cưỡng:
- Em cũng yêu anh ngay từ buổi đầu...
Thế là, hai người như sống trong một cơn mê. Mai Hạnh cố chống chọi lại với ái tình. Lê Chất thì lo ngại, tính toán, như ngồi trên đống lửa. Chàng định cùng người yêu trốn đi Nhật Bản, chàng không cần gì danh dự, chức nghiệp, dư luận của đời nữa. Khi mà người ta yêu thì còn có cần gì? Mai Hạnh thì yếu đuối hơn, rụt rè, e ngại. Nhưng sau nàng cũng nhận lời.
Lê Chất đã sắp đặt xong mọi việc, chàng trở về Hà Nội, lo lót, lấy được giấy đi, tiền bạc, đồ dùng đi xa đã sẵn sàng cả, thì phút cuối cùng, chàng nhận được một bức thư:
"Chất, anh hãy đi một mình và quên em đi, vì em không thể theo anh. Đừng giận em, tội nghiệp! Em không phải là hạng đàn bà có thể vượt hết những khó khăn như anh đã tưởng. Đến phút cuối cùng, em bỗng sợ, em sợ gia đình tan tác, khổ tâm thày mẹ em, chồng em khinh bỉ, tai tiếng ở đời, những lo ngại ở tương lai... em thấy rằng: "Nếu chúng ta đi với nhau, chưa chắc chúng ta đã sung sướng". Anh thấy chưa? Em là một đứa hèn! Em không yêu anh được như anh tưởng đâu, vì em đã hi sinh anh cho tất cả những lo ngại trên kia. Vậy mà em yêu anh có thể chết vì anh được. Trong đời anh còn nhiều chuyện anh có thể quên em được đấy! Nhưng còn em thì thực chẳng bao giờ, chẳng bao giờ! Vì em biết sẽ không bao giờ tự an ủi được bởi em đã làm hỏng đời em nếu em chẳng theo anh...".
Trong thư, một dây hoa "Tigôn" nhỏ ép rơi ra: Những nụ hoa chúm chím hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, đỏ hồng như nhuộm máu đào. Chất đặt một cái hôn trên những cánh hoa và khóc, nhưng đó là một kẻ đàn ông có nghị lực: chàng đi du lịch xứ Phù Tang có mỗi một mình.
Bốn năm sau, một hôm họa sư Lê Chất thấy trên bàn giấy mình một phong thư viền đen báo tang. Chàng mở ra xem thì ra của người chồng Mai Hạnh báo tin rằng nàng đã chết. Họa sư đáp xe lửa đi Vân Nam ngay để một buổi chiều đặt trên mồ Mai Hạnh những dây hoa "Tigôn" màu máu đào, hình quả tim vỡ làm mấy mảnh. Rồi trở về Hà Nội, chàng mới sực nhớ ra rằng quên không hỏi để xem Mai Hạnh chết vì sầu muộn, hay vì một cơn cảm, sốt... chết về một bệnh gì?
Ngày nay, họa sư Lê Chất đã già rồi, nhưng cứ đến mùa hoa "Tigôn" nở nhiều nhất, không buổi sáng nào họa sư quên mua một ôm về để thay cho hoa cũ trong phòng vẽ, vì thứ hoa ấy chóng tàn.

Tiểu thuyết thứ bảy, 9-1937.


Các bài liên quan:
1.            Hai sắc hoa ti-gôn. Thơ T.T.Kh
2.            Bài thơ thứ nhất. Thơ T.T.Kh
3.            Đan áo cho chồng. Thơ T.T.Kh
4.            Bài thơ cuối cùng. Thơ T.T.Kh
5.            Dòng dư lệ. Thơ Nguyễn Bính
6.            Trả lời của người yêu. Thơ Thâm Tâm
7.            Màu máu ti-gôn. Thơ Thâm Tâm
8.            Dang dở. Thơ Thâm Tâm
9.            Hai sắc hoa ti-gôn: Giai thoại văn học. Khuyết danh


Tuesday, June 17, 2014

Cái đầu lâu mất tích


Bình Định vương ngồi buông thõng chân trên hòn đá nổi tự nhiên ở đầu thung Nai. Quanh ông, các tướng văn, võ đứng quây quần. Một anh lính hối hả đi tới chỗ Bình Định vương:
- Trình nhà Vương. Chúng con tìm mãi vẫn không thấy đầu thằng Phùng Quý ở đâu cả!
Bình Định vương khẽ nhếch mép cười:
- Tìm mãi vẫn không thấy! Hắn có phép thần thông hay các ngươi trông gà ra cuốc?
Trận Sách Khôi này, quân giặc điều tới mấy vạn binh mã do Tổng binh Giao Chỉ Trần Trí chỉ huy cùng các tướng khét tiếng như Mã Kỳ, Phùng Quý... vây chặt nghĩa quân Lam Sơn định quét gọn một mẻ lưới. Bình Định vương họp các tướng bàn: “Quân giặc bao vây bốn mặt... Đây chính là nơi binh pháp gọi là đất chết, đánh nhanh thì còn, chậm trễ thì mất”. Tướng sĩ đều quyết phá vòng vây giặc, và nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển bại thành thắng. Trần Trí, Mã Kỳ thua to, rút chạy về thành Đông Quan. Tin chém được đầu Tả tham tướng Phùng Quý càng làm nghĩa quân nức lòng. Ai cũng muốn coi mặt tên tướng độc ác này. Cho nên chuyện cái đầu Phùng Quý bỗng dưng biến mất, khiến mọi người xôn xao bàn tán.
Sau một lát yên lặng. Bình Định vương hỏi người lính đưa tin:
- Con có rõ mặt Phùng Quý không?
- Con không thể nào lầm được. Chính con là nô lệ của hắn, hắn đã đầy đọa con, thích chữ lên trán con...
Như để làm chứng cho lời mình, anh lính giật phăng tấm khăn bịt đầu, để lộ vầng trán in hằn những vết sẹo dọc ngang. Anh bịt lại khăn rồi sụp lạy:
- Đội ơn đức Vương, con đã hả mối hận thù riêng...con chỉ tiếc không được tự tay mình lấy đầu Phùng Quý!
Bình Định vương ra hiệu cho anh lính đứng dậy. Người hỏi:
- Ai chém rụng đầu Phùng Quý?
- Trình đức Vương, người có công cứu con thoát khỏi nanh vuốt Phùng Quý cũng chính là người chém rụng đầu hắn!
Anh lính liền thưa.
- Ai nhỉ?
- Trịnh Khả!
Làn sóng xôn xao trong đám đông nổi lên. Tướng sĩ vây quanh Bình Định vương reo mừng và cùng đưa mắt dớn dác, ngó tìm Trịnh Khả. Phải! Đúng là Trịnh Khả, viên tướng mới độ tuổi hai mươi đã múa giáo đâm Phùng Quý ngã ngựa rồi cắt lấy đầu...
- Trịnh Khả đâu rồi?
Trịnh Khả vượt ngục thành Tây Đô rồi đến Lam Sơn nương nhờ họ Lê từ lúc tuổi còn niên thiếu, được Bình Định vương thương yêu như con cháu trong nhà. Người vừa cất tiếng gọi thân thiết vừa nhìn bên phải, ngó bên trái xem Khả đứng náu mình ở đâu, song Bình Định vương và các tướng sĩ đều chẳng ai thấy Khả đâu! Trịnh Khả đã mất tích cùng với cái đầu của Phùng Quý!
- Phải đi tìm ngay Trịnh Khả!
Bình Định vương dứt lời, các tướng sĩ ào lên chia nhau đi khắp ngả...
Tại một góc rừng hẻo lánh, Trịnh Khả lúi húi dùng đại đao đào đất đắp thành một nấm mộ. Cái áo của người cha trao cho Trịnh Khả hôm từ biệt ra đi đã sáu bảy năm trời trôi qua, trải bao phen vào sinh ra tử, vẫn được giữ gìn nguyên vẹn.
Năm Khả mười sáu tuổi, Phùng Quý bắt về làm nô, định sẽ thiến đi để biến anh thành con vật cho dễ sai khiến. Khả lập mưu trốn thoát. Phùng Quý tức giận bắt cha Khả tra tấn đến chết. Khả tuy đã từ biệt cha nhưng vẫn lén lút tại nhà bà cô bên kia sông để nghe ngóng tình hình. Đến ngày thứ ba, Khả bỗng thấy ruột gan mình nóng như thiêu. Chờ trời tối, Khả bơi xuôi dòng sông Mã tìm gặp thằng bạn con bà hàng nước ven đê. Nó cho biết lúc chiều quân Ngô đem một ông già đã chết khô cứng, ném xuống sông. Suýt nữa Khả òa lên khóc. Khả lần tới bến, mò xuôi một quãng thấy xác cha. Khả ôm thi hài bơi ngược dòng về tới bến quê nhà, đem chôn giấu trong một lùm cây rậm. Rồi khả tìm đến Lam Sơn xin nương tựa chủ trại Lê Lợi, được ông ân cần dạy bảo mọi điều. Năm ông mở hội thề Lũng Nhai, Khả mới mười bảy tuổi, phải khai tăng thêm một tuổi để dự hàng nghĩa sĩ tuyên thệ một lòng giết giặc cứu nước, rửa thù nhà. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, xưng Bình Định vương, Khả được phong làm tướng đứng đầu đội quân Thiết đột (cảm tử).
May mắn sao, trận này, Phùng Quý lại dẫn xác đến và Khả gặp dịp giáp mặt kẻ tử thù. Hắn sững người một chút rồi vung siêu đao thúc ngựa chồm tới. Khả bình tĩnh múa giáo đón đỡ. Cuối cùng, Phùng Quý bị đâm một nhát ngã lăn xuống đất. Khả cắt đầu kẻ thù chạy biến vào rừng...
Không thể về bến sông quê nơi người cha yên giấc ngàn năm. Khả dùng tấm áo cha thay hài cốt, vun đất thành nấm mộ giữa rừng sâu. Anh đặt cái đầu Phùng Quý xuống trước mộ làm lễ cúng cha:
- Lạy cha sống khôn chết thiêng...
Hình ảnh người cha già yếu đói khổ bị giặc tra tấn đến tả tơi da thịt hiện lên trong tâm tưởng khiến Khả nghẹn lời, lưng khòm mãi xuống, hay tay ôm choàng lấy nấm mộ...Đến khi anh ngửng nhìn lên thì...
Không biết từ lúc nào, Bình Định vương cùng tướng sĩ thân cận đã tìm được đến đây. Họ đang lặng lẽ thành kính đứng trước mộ cha anh.
Hoàng Tuấn Phổ
(Tạp chí Văn nghệ thiếu nhi-1991)


Wednesday, June 11, 2014

Tặng quà


Nghe nói cơ quan năm tới tinh giảm biên chế, hiện tại là đợt cuối cùng đánh giá cán bộ, sắp xếp chức danh. Một người thật thà chất phác, có thâm niên công tác hơn hai chục năm như hắn, đến bây giờ cũng mới chỉ là anh cán bộ sơ cấp, đúng là không đành lòng. Hắn tâm trạng rối bời, suốt đêm mất ngủ, tóc bạc trắng cả đầu mà không dám thổ lộ với bà xã. Vợ hắn đã mấy lần chỉ tay day trán mắng hắn rằng: “Anh đúng là không bằng đứa trẻ ranh, nó đến Tết còn biết bắt người lớn mua quyển lịch treo tường để biếu cô giáo mẫu giáo”.
Thế là hắn hạ quyết tâm tháng này nhịn hút thuốc, giành số tiền vợ chi cho mua thuốc để mua thùng bia, đánh liều cũng biếu quà một phen xem sao.
Gõ cửa vào nhà giám đốc, ông trợn tròn mắt nhìn hắn. Chắc giám đốc không ngờ một người như hắn mà cũng tập tọng biếu quà. Hắn nói hết sự tình, giám đốc thất kinh: “Làm hơn hai chục năm mà vẫn chỉ là cán bộ sơ cấp, đúng là ly kỳ như Nghìn lẻ một đêm”. Một lát sau thì giám đốc có vẻ hơi phẫn nộ, hứa ngay lập tức: “Yên tâm, đợt này nhất định sẽ…”
Về đến nhà, hắn nhìn vợ cười tủm tỉm. Vợ tỉnh bơ, mắng: “Đồ quỷ, lại giở trò gì đấy”. Hắn không hé răng, định bụng khi nào có kết quả sẽ cho vợ phải ngạc nhiên.
Chủ nhật, vợ lôi hắn đi siêu thị. Hắn giật mình vì loại bia mà mình mua hôm trước đang chất đống bán giảm giá trước cửa siêu thị. Thôi phen này thì hỏng thật rồi. Chuyện này giám đốc mà biết thì há chẳng phải mình mua hàng hạ giá đi biếu sao. Nghĩ đến đây, hắn toát hết mồ hôi hột, quyết định phải gặp giám đốc giải thích rõ chuyện này.
Thứ hai, hắn lấy hết can đảm đẩy cửa phòng làm việc của giám đốc: “… Thưa giám đốc, thùng bia hôm trước em …” Chưa nói hết câu thì có người khác bước vào. Hắn đành nói: “Anh tiếp khách đi, em quay lại sau”, rồi lui ra.
Thứ ba, hắn lại lấm la lấm lét đẩy cửa phòng giám đốc. Trong phòng đang có khách làm việc, hắn lại ngượng ngùng lui ra.
Thứ tư, đẩy cửa phòng bước vào, hắn thấy giám đốc đang thảo luận công việc với mấy vị phó giám đốc. Tất cả ánh mắt đổ dồn vào hắn. Hắn đi ra như trốn chạy.
Đến thứ năm, hắn chưa kịp đến gặp giám đốc thì cán bộ Phòng hành chính của cơ quan đã đến tìm hắn. Đưa hắn đến phòng làm việc, ông ấy chỉ vào thùng bia trên nền nhà hỏi: “Cái này có phải anh biếu giám đốc không? Giám đốc đã nộp lên trên, anh về viết ngay bản kiểm điểm, thành thật nói rõ mọi chuyện rồi nộp lên đây”.
Vì chuyện ấy, hắn chẳng những không được cất nhắc, mà suýt nữa còn bị khai trừ khỏi đảng. Trong hội nghị tổng kết năm, phần đánh giá cán bộ, giám đốc đã nghiêm túc phê bình một số cá nhân có hành vi lôi kéo, hối lộ cấp trên.
Một năm sau hắn mới nghe người khác xì xầm: “… Biếu có thùng bia mà suốt ngày thúc giục cấp trên, đúng là chỉ người như lão ta mới vậy…”
Tác giả: Vương Văn
Dịch giả: Ngọc Khanh

Nguồn: Tiểu thuyết mini – Trung Quốc; Số 3-2001

Vé giảm giá


Một hôm tôi gọi điện đến một hãng hàng không, muốn đặt mua hai vé máy bay đi California.
“Vâng, thưa ông. Nếu bay chuyến từ thứ hai đến thứ sáu, đồng thời cam kết không hút thuốc khi bay ngang qua thành phố Salt Lake thì ông có thể được hưởng giá ưu đãi.”. Giọng của cô nhân viên bán vé ngọt ngào trả lời.
“Tôi đảm bảo không hút thuốc, có thể được hưởng bao nhiêu phần trăm ưu đãi ạ?”.
“Ông có phải là người Indian không?”
“Không.”
“Thế thì tiếc quá. Nếu ông là người Indian, đồng thời phải bay chuyến 4 giờ sáng ngày hôm trước và trở về chuyến 3 giờ sáng ngày hôm sau thì chúng tôi mới giảm giá 1/3”.
“Còn có ưu đãi nào khác không?”. Tôi cảm thấy hơi thất vọng.
“À. Nếu ông đã kết hôn 50 năm mà chưa từng ly hôn, đồng thời đi về trong ngày thì được giảm giá 20%”.
“Tôi không đủ điều kiện. Còn loại vé nào khác không?’
“Còn một loại ưu đãi đặc biệt cuối tuần nữa. Nếu ông là bác sĩ ngoại khoa về thần kinh, mua vé khứ hồi để đi làm phẫu thuật sọ não thì được hưởng giảm giá 10%”.
“Hừ, những gì may mắn đều rơi vào bác sĩ hết”. Tôi có chút bực dọc.
“Còn một loại vé nữa, chỉ thích hợp bay vào tối thứ hai đến trưa thứ tư. Nếu ông là đại sứ tại Scandinavian trở về nước nghỉ phép thì có thể được ngồi khoang hạng nhất và phục vụ ăn đặc biệt”.
“Không. Tôi và vợ cùng đi du lịch thôi”. Tôi khó chịu trả lời.
“Sao ông không nói sớm. Nếu bà ấy chưa đến 21 tuổi, hai người lại không đi du lịch vào cuối tuần, đồng thời không bị triệu chứng H1N1 thì có thể được hưởng ưu đãi. Tất nhiên, nếu bà ấy mang thai, hai người lại xuất phát từ cùng một bang và tên bang không chứa chữ cái “O” thì ông bà được hưởng 5% giá ưu đãi. Nhưng bà ấy phải là mang thai lần đầu”.
“Chúng tôi không phù hợp với điều kiện ấy”.
“Vâng, chúng tôi còn một loại vé ưu đãi nữa. Nếu ông là học giả đã giành được học bổng của quỹ khuyến học Lord và đã có hai con thì có thể được hưởng giảm giá 1/3”.
Tôi không muốn hỏi thêm nữa, nói: “Cô có thể bán cho tôi hai vé thường đi California không?”
“Rất tiếc, chúng tôi ở đây không bán loại vé đó. Để tôi thử hỏi sếp xem sao nhé”. Nhân viên bán vé lạnh nhạt trả lời.

Tác giả: Steven (Mỹ)
Dịch giả: Ngọc Minh
Nguồn: Tiểu thuyết mini – Trung Quốc; Số 1-2001


Hoàn kiếm tước binh quyền


Đêm.

Trăng chênh chếch soi qua song cửa. Người đàn ông trung niên vẫn ngồi lặng lẽ bên bàn viết. Như là từ rất lâu rồi. Ánh sáng của ngọn bạch lạp soi rõ khuôn mặt cương nghị, đôi mày nhíu lại rồi giãn ra. Dường như ông đang suy nghĩ rất lung. Đất nước đã sạch bóng thù nhưng trăm họ qua cơn chiến chinh vẫn còn lầm than. Triều chính còn đấy trăm ngàn mối lo. Ông biết, triều cương chưa yên thì công cuộc kiến thiết quốc gia khó lòng làm nổi. Gương tày liếp của cha con Đinh Tiên hoàng năm xưa hiện rõ trong đầu ông như vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Con trai trưởng của ông, Hữu tướng quốc Tư Tề, tuy công lao lừng lẫy, thao lược gồm tài nhưng tính tình nóng nảy lại hơi kiêu ngạo. Nói dại, nhỡ đâu ông có mệnh hệ nào thì Tư Tề liệu có cầm cương được cỗ xe Đại Việt đang còn chệnh choạng? Hoàng tử Nguyên Long thì hẵng còn bé. Các tướng lĩnh như Phạm Văn Xảo, Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Trần Nguyên Hãn ... cũng đầy công lao hãn mã, binh quyền lại nắm trong tay, ra vào cung cấm vẫn được mang vũ khí. Ông thấy nguy hiểm. Họ thần phục ông. Họ đã từng vì ông, vì trăm họ Đại Việt mà vào sinh ra tử nhưng lòng người khó dò. Mấy ai trên đời vượt qua được sự mê hoặc của quyền lực và danh lợi. Chẳng phải Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn đã lấy ngôi nhà Lê, chẳng phải Lý Sảm đã mất ngôi vào tay anh em Tự Khánh, Thủ Độ đấy sao. Toàn những kẻ nắm binh quyền trong tay, nhân lúc loạn lạc mà đoạt ngôi, tranh vị. Không! Mười năm nếm mật nằm gai mới có được hôm nay. Đất đai là của ông, thần dân là của ông, vương quyền chỉ có thể là của ông. Không thể sơ suất. Đa nghi vốn dĩ là thuộc tính của kẻ làm chúa.

Ông đứng dậy, đi đi lại lại trước bàn viết. Tiếng gà đâu đó trong hoàng thành vẳng lại nhắc ông đêm đã đến canh ba. Ông vẫy tay, sai người gọi Tư Tề sang gặp ông ngay. Hai ngày nữa thủy quân sẽ thao diễn ở hồ Thủy quân. Toàn bộ tướng lĩnh Lam Sơn sẽ tham dự, toàn bộ dân chúng kinh thành sẽ tề tựu để chứng kiến sức mạnh của đoàn quân chiến thắng.

Có tiếng võ phục loạt soạt.

- Áng![1]

- Con vào đây ta có việc cần bàn.

- Thưa, con đã sai người chu toàn mọi việc cho buổi duyệt thủy binh. Áng còn điều chi cần kíp?

- À, không. Con khá biết câu chuyện chén rượu năm xưa của Triệu Khuông Dẫn?

Tư Tề chăm chăm nhìn cha, thoáng rùng mình. Thực ra việc này chàng cũng đã nghĩ nhiều nhưng lòng còn e sợ bị khép vào tội bất nghĩa nên chưa dám bẩm báo. Tuy chàng và nhà vua là tình cha con nhưng các tướng lĩnh nghĩa quân đối với cha con chàng ân nghĩa tày non. Mười năm kề vai sát cánh, chàng chưa thấy cha có điều chi không hài lòng về họ. Giờ cha đã nói thế này có lẽ ý ông đã quyết, chỉ là cần bàn thêm về mưu kế thực thi. Làm không khéo e lại đẩy trăm họ vào cảnh nồi da xáo thịt. Xét cho cùng, ngôi vị đế vương kia, một mai cũng là của chàng.

Tư Tề khẽ gật đầu với cha rồi quay người lệnh cho lính hầu lui ra ngoài. Chàng tự mình cẩn thận khép cửa. Tiếng sấm từ xa nổi lên ầm ì. Có lẽ trời sắp dông.

***
Tranh minh họa của tựa game Thuận Thiên kiếm
Mặt trời đã lên độ chừng một con sào. Cả không gian ánh vàng như mật. Mới đầu hạ nên tiết trời hẵng còn mát mẻ. Nước hồ Thủy quân dềnh lên, chung quanh hồ cờ xí tở mở, chiêng trống rộn ràng. Trên hồ, chiến thuyền xếp dài ngút mắt. Đức vua lẫm liệt đứng trên lâu thuyền, tấm chiến bào nhẹ bay trong gió. Sau lưng ông là khoảng trên chục viên văn quan võ tướng đầu triều. Tất cả đều nai nịt gọn gàng, kiếm đeo trễ bên hông. Cạnh ông, hơi lùi sau một chút là Tư Tề. Nét mặt căng thẳng.

Mặt nước hồ hơi xao động. Đúng lúc buổi diễu binh sắp bắt đầu, trăm quan đang quỳ xuống tung hô thì bỗng tiếng Tư Tề vang lên:

- Cẩn tấu Đức Hoàng thượng! Thần Kim Quy hiển linh!

Chưa ai kịp định thần thì thanh kiếm Thuận Thiên lừng lẫy đã từ tay nhà vua bay xuống mặt hồ.

- Giặc đã tan. Kiếm lệnh từ nay xin hoàn!

Dứt lời, Đức vua Thuận Thiên quỳ phục xuống, dập đầu tạ ơn thần Kim Quy. Quan văn, tướng võ nhìn nhau ngơ ngác. Viên Tả kim ngô vệ Đại tướng quân Phạm Vấn hô lớn:

- Đức Hoàng thượng muôn năm!

- Muôn năm! Muôn năm! Muôn năm!

Tiếng hô vang vọng kéo dài suốt mặt hồ. Tư khấu Lê Sát tiến lên vài bước, quỳ xuống, hai tay nâng thanh kiếm trận lên quá đầu.

- Cẩn tấu Đức Hoàng thượng! Đất nước đã thanh bình. Kẻ tôi tớ này vui mừng vì không còn cần phải xông pha trận mạc. Từ nay, tôi xin được trả lại kiếm trận, trả lại quyền điều động quân đội để rảnh rang giúp Đức Hoàng thượng kiến thiết nước nhà. Cẩn xin Đức Hoàng thượng chuẩn tấu!

- Tư Tề thay ta nhận kiếm. Quan Tư khấu đứng dậy đi.

Không ai bảo ai, lần lượt Đại tướng quân Phạm Vấn, Thái bảo Phạm Văn Xảo, Tư mã Lê Ngân, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú v.v đều tháo gươm dâng trả ngay tại lâu thuyền. Tư Tề chuyên chú vào việc nhận kiếm và xếp thành một hàng trên chiếc kệ vừa được hai chú lính bê từ trong khoang ra. Không ai nhận ra Lê Sát lúc bấy giờ lùi lại sau, liên tục liếc trộm Tư Tề, ánh mắt đầy dò xét.

Ba ngày sau, nhà thuyền chài họ Mạc bắt gặp một con rùa lớn, dài đến bốn, năm thước ta nổi lên giữa hồ. Tin truyền vào cung, Tư Tề chỉ tủm tỉm cười, lẳng lặng thưởng thêm cho viên gia tướng thân tín hai mươi nén bạc. Lê Sát cũng nghe chuyện vào lúc tan buổi chầu. Mặt thoáng chút hồ nghi nhưng lại ngay lập tức nói nói cười cười, rằng vận nước chắc đang hồi hưng vượng nên thần Kim Quy mới hiện thân phò hộ.

Buổi chầu kế tiếp, Khu mật Viện chính thức công bố sắc lệnh của nhà vua về việc cấm võ tướng mang vũ khí vào triều đồng thời thu hồi các lệnh phù điều động quân đội.

Đầu năm Kỷ Dậu (1429), Trần Nguyên Hãn trẫm mình ở bến Sơn Đông.

Tháng … năm … Phạm Văn Xảo bị bức tử trong nhà lao.

Tháng … năm … Nguyễn Chích bị bãi chức.

Tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Tư Tề bị tước bỏ ngôi vị Thái tử, giáng xuống làm Quận vương.

Cuối tháng đó, Đại tư đồ Lê Sát nhận di chiếu, phò Thái tử Nguyên Long 11 tuổi lên ngôi.

Mùa đông, tháng Một[2] năm Thuận Thiên thứ tư, Nguyễn Trãi chép chuyện Đức vua trả gươm cho thần Kim Quy vào sách Lam Sơn thực lục[3]. Cũng từ đó, câu chuyện trả gươm chính thức trở thành huyền thoại có thật.

Hàn Giang



[1] Tiếng gọi cha trong ngôn ngữ Việt cổ.
[2] Xưa, năm âm lịch được tính từ tháng giữa mùa đông; bắt đầu từ Một, Chạp, Giêng, Hai … cho đến tháng Mười là tháng cuối năm.
[3] Theo dịch giả Bảo Thần tại bản dịch Lam Sơn thực lục do NXB Tân Việt ấn hành năm 1956 (in lần thứ ba) thì câu chuyện trả gươm được thêm vào từ lần biên soạn, chỉnh lý năm Vĩnh Trị thứ nhất dưới thời vua Lê Hy tông.



Rượu


Theo truyền thuyết và ghi chép lịch sử của Trung Quốc, Đỗ Khang hay còn gọi Thiếu Khang, là quốc vương thứ năm của triều nhà Hạ.

Phù điêu mô tả người Cơ tu uống rượu cần
Ảnh: Dân trí
Tương truyền, vào khoảng vương triều thứ tư, triều nhà Hạ xảy ra chính biến, tranh giành chém giết lẫn nhau. Khi đó hoàng hậu của quốc vương đương triều đang mang thai đã phải trốn chạy về quê mẹ đẻ và sinh hạ được một cậu con trai. Vì mong muốn cậu bé giỏi giang như ông nội Trọng Khang, nên bà đã đặt tên cho con là Tiểu Khang.

Thuở nhỏ Tiểu Khang sống với nghề chăn thả gia súc, cơm mang theo thường treo lên cành cây, nhiều khi quên ăn. Một vài ngày sau, Tiểu Khang phát hiện túi cơm đã biến mùi, chảy ra những giọt nước trong vắt, ngọt ngào, thơm ngát. Điều đó đã gây hứng thú cho cậu bé. Qua nhiều lần tìm tòi nghiên cứu, cuối cùng cậu đã phát hiện ra nguyên lý lên men, sau đó từng bước mô phỏng, cải tiến để rồi tìm ra một công nghệ ủ và nấu rượu hoàn chỉnh. Từ đó Đỗ Khang được coi là ông tổ của nghề nấu rượu ở Trung Quốc.

Tuy nhiên dân gian cũng có một câu chuyện vui về việc tìm ra rượu và thưởng thức rượu như sau:

Thứ nước uống do Đỗ Khang mới đầu tìm ra chỉ là một loại nước giải khát thông thường, như Coca Cola hay 7Up của chúng ta hiện nay, không có chất cồn gây cảm giác lâng lâng hay say sưa sau khi uống. Đỗ Khang ngày đêm suy nghĩ, mong muốn cải tiến. Một hôm trong lúc ngủ, có một vị thần hiện về bảo với Đỗ Khang rằng, trong ba ngày tới, mỗi ngày vào giờ Dậu hãy ra cổng thành phía Tây xin một giọt máu của người gặp đầu tiên, sau đó về pha vào thứ nước uống kia sẽ được hiệu quả như ý. Đỗ Khang bèn làm theo. Ngày đầu tiên ngay đầu giờ Dậu ông đã gặp được một thi sĩ, xin được một giọt máu của ông ta. Ngày hôm sau ra chỗ cũ ngồi đợi, quá nửa giờ Dậu mới gặp một tráng sĩ và anh ta cũng vui vẻ cho Đỗ Khang một giọt máu. Ngày thứ ba, đợi mãi đợi mãi, gần hết giờ Dậu vẫn không thấy bóng dáng một ai. Mãi đến cuối giờ Dậu xuất hiện một tên lưu manh, không còn cách nào khác, Đỗ Khang phải xin hắn một giọt máu.

Đã có đủ ba giọt máu xin đúng giờ Dậu, Đỗ Khang pha vào món nước kia uống thử, hiệu quả thật tuyệt vời. Đó cũng chính là thứ rượu mà chúng ta uống hiện nay. Vì vậy trong tiếng Hán, chữ “tửu - rượu” (酒) được cấu tạo gồm bộ chấm thuỷ (3 giọt máu) và chữ dậu (giờ Dậu) đứng sau.

Tửu - Trương Khắc Tư viết
Thú vị hơn là chuyện uống rượu. Khi mới uống, vài ba chén ban đầu chính là chúng ta uống giọt máu của thi sĩ, vậy nên ai cũng ăn nói rất hoa mỹ, bay bướm, giàu ý thơ. Tiếp theo chúng ta uống giọt máu của tráng sĩ, đến lúc này sức khoẻ dường như vô biên, ai mời cũng uống, liên tục “dzô dzô” rồi “trăm phần trăm”. Cuối cùng là giọt máu của kẻ lưu manh, uống xong say xỉn phá phách, làm những điều bậy bạ, vi phạm thuần phong mỹ tục hay phạm pháp cũng là do uống đến giọt máu của kẻ lưu manh này.

Đàn ông Hmoong và rượu ngô
Ảnh: Jeff Phạm
Vậy nên uống rượu ngày nay, không được giống như các thi sĩ ngày xưa “bầu rượu túi thơ, uống xong “xuất khẩu thành chương”, nhưng cũng cố gắng giữ mình chỉ uống hết “giọt máu thứ nhất”. Quá lắm mới uống đến “giọt máu thứ hai” là cũng đỡ tốn tiền hại sức khoẻ rồi. Đừng uống đến “giọt máu thứ ba” mà không giữ được chính mình.

Chuyện phố xin tặng quý vị danh mục các loại vang dùng với hải sản.



 Ngọc Khanh

Chỉ tại con chó


Giám đốc Tống chủ trì tất cả mọi công việc trong sở, chuyện gì không có ông gật đầu thì không thể xuôi được. Mỗi năm vào dịp lễ tết, nhân viên cấp dưới, đối tác làm ăn đến tặng quà đông nườm nượp. Nhưng bỗng dưng tết năm nay không thấy bóng dáng một ai, giám đốc Tống cảm thấy rất khó hiểu.

Ngày đầu tiên sau năm mới đi khai xuân, trưởng phòng Lưu của một đơn vị cấp dưới là người đầu tiên đến văn phòng giám đốc Tống. Vừa bước vào phòng đã tự kiểm điểm rằng, Tết năm nay bận tối cả mắt, không có thời gian thân chinh đến nhà giám đốc chúc Tết, vậy nên hôm nay đến đây tạ lỗi, vừa nói vừa dúi vào tay giám đốc một chiếc phong bì. Giám đốc đang định nói câu cám ơn cho phải phép thì lại có khách đẩy cửa bước vào, vô tình nhìn thấy cảnh này. Giám đốc Tống đành nghiêm mặt nói: “Sao cậu lại dám làm cái trò này? Thế này là hại tôi đấy. Định đẩy tôi vào con đường tham ô hối lộ à?”. Câu nói làm trưởng phòng Lưu ngượng chín cả mặt.

Một lát sau vài người nữa lục tục kéo vào phòng giám đốc, cũng đưa phong bì, cũng nói lý do như trưởng phòng Lưu, nhưng ai mà dám nhận nữa. Tuy nhiên trong lòng giám đốc Tống thấy bực mình, chỉ muốn mắng: “Lũ ngu, sao không đến nhà mình? Bận không có thời gian à, ma nào tin được”.

Về đến nhà, giám đốc kể lại chuyện này cho vợ nghe và vợ cũng thấy bực mình lây. Phân tích tình hình, giám đốc Tống cũng thấy nghi hoặc: Trước Tết nghe phong thanh, năm nay cấp trên có đợt điều chỉnh với lãnh đạo một số cơ quan, chẳng lẽ mình nằm trong số đó? Cậu Lưu và một số tay nữa rành thông tin lắm, có khi chúng biết trước chuyện này rồi, cái trò đến văn phòng cơ quan đưa phong bì chỉ là giả vờ giả vịt thôi.

Giám đốc Tống liền bắt vợ đến nhà một lãnh đạo cấp trên nghe ngóng tình hình. Vợ vội vàng đi ngay, không lâu sau trở về mừng rỡ nói: Hoàn toàn không có chuyện đó, cái ghế giám đốc sở của ông vẫn vững chãi. Lúc đó giám đốc Tống mới thở phào nhẹ nhõm.

Vài ngày sau đến khảo sát công tác tại đơn vị cậu Lưu. Chiêu đãi bữa trưa, giám đốc và cậu Lưu đều uống hơi quá chén, hai người dìu nhau vào phòng trong nghỉ ngơi. Giám đốc Tống rượu nhiều nhưng đầu óc tỉnh táo, miệng giả vờ lè nhè hỏi: “Cậu … Lưu này … chúng ta … quan hệ … cũng đâu đến nỗi … sao lâu nay … không thấy đến nhà chơi?”. Trưởng phòng Lưu thở dài nói: “Anh Tống … anh tưởng em không muốn sao … nhưng chỉ tại … con chó.”

Chó nào nhỉ? Về nhà giám đốc Tống nghĩ lại mới chợt nhớ ra, cậu Lý ở tầng một có nuôi một con chó rất to. Kể cũng lạ, con chó ấy ban ngày nằm lì trong nhà, nhưng cứ ban đêm lại chui ra phục ở cửa cầu thang. Thử nghĩ xem, đến nhà giám đốc chơi, dù sao cũng không phải là quang minh chính đại, vậy nên thấy con chó to tướng phục đấy thì ai mà dám lên tầng nữa? Giám đốc Tống rủa thầm: Cái thằng cha Lý đáng ghét này, chặn đứt con đường tài lộc của mình.

Thật ra cậu Lý ấy cũng đáng thương, sau khi cưới không được phân nhà, đành phải thu dọn cái buồng xép tầng một ấy làm nơi hai vợ chồng chui ra chui vào. Chỗ đó vừa tối tăm, vừa ẩm mốc, chuột bọ lại nhiều, đúng là khó mà chịu nổi. Sở đã mấy lần chia nhà mới, nhưng chẳng đến lượt cậu ta. Cũng tại cái cậu này ki bo, nếu chịu khó đến nhà giám đốc Tống thì đã chẳng đến nỗi ấy.

Giám đốc Tống lập tức tìm gặp cậu Lý, bắt xử lý ngay con chó, nhà tập thể cơ quan ai cho phép nuôi chó? Nhưng cậu Lý nói, nuôi chó có giấy phép đàng hoàng, hoàn toàn hợp pháp. Giám đốc đành chịu. Vài ngày sau, giám đốc bèn chỉ đạo các phòng ban liên quan gấp rút điều chỉnh cho cậu Lý một căn hộ hai phòng, rốt cục coi như đã tống khứ được “ôn dịch” chặn đường tài lộc của mình.

Giám đốc Tống nào ngờ, hôm chuyển nhà, vợ cậu Lý mặt mày hớn hở nói với chồng: “Mai trả con chó cho người  ta đi, nhà được phân rồi, không cần thiết phải nuôi nữa. Hi… hi, chiêu của anh đúng là tuyệt thật.”

Tác giả: Từ Ngạn
Dịch giả: Ngọc Khanh
Nguồn: Tiểu thuyết mini – Trung Quốc; Số 1-2001


Tình địch


Tôi và Thọ lấy nhau đã được ba năm. Tôi không bao giờ nghi ngờ tình yêu anh ấy dành cho tôi. Tôi xinh đẹp, có năng lực, học vấn ngang chồng, tiền lương cũng chẳng kém gì anh ấy. Lấy được người như tôi có lẽ là phúc ba đời của nhà chồng.

Hôm đó mấy chị em đã có chồng ở cơ quan tôi đang thảo luận xem cách nào giữ chồng hay nhất. Khi mọi người hỏi đến tôi, tôi nói mình không để ý đến chuyện đó, nếu nói chuyện ngoại tình thì tỷ lệ của tôi cao gấp chồng 100 lần.

Nhưng tôi không ngờ một người đầy tự tin về hôn nhân như tôi lại chịu một trận thất bại ê chề trong “cuộc chiến tình cảm”…

Đó là một ngày của vài tuần sau buổi thảo luận tại cơ quan, Thọ đi công tác. Buổi tối, sau một ngày công việc mệt mỏi, tôi theo thói quen lên mạng xem tin tức. Cũng có thể do hiếu kỳ, cũng có thể vì muốn chứng thực sự chung thủy của Thọ đối với mình, tôi đột nhiên nảy ra ý nghĩ vào hòm thư của anh ấy xem sao. Tôi tự hứa với mình: Chỉ thử ba mật mã, nếu không vào được thì thôi. Không ngờ tôi mới thử lần thứ hai đã được. Thọ dùng ngày tháng năm sinh của tôi làm mật mã, xem ra anh ấy vẫn yêu mình nhất. Tôi thầm đắc ý.

Tuy nhiên, có hai bức thư trong đó đã làm tôi ngây người, đó là thư của một người con gái ký tên: Cầm. Thư rất ngắn, lời lẽ rất dịu dàng: “Thọ, đừng thức đêm nữa. Thọ, em nhớ anh…”. Tôi bỗng nhiên nhớ ra rằng, những lời lẽ yêu thương đơn giản mà mộc mạc này đã từ lâu tôi không thì thầm bên tai chồng nữa.

Tôi nằm xoài ra giường, khóc nức nở, bởi vì tôi không dự tính trước sẽ xảy ra cảnh này. Làm sao bây giờ? Cuối cùng tôi gửi một bức thư theo địa chỉ email đó, nội dung là: Tôi là vợ của Thọ, nếu có thể chúng ta hãy nói chuyện với nhau.

Tôi muốn xem cô gái  kia xinh đẹp hay là thướt tha yêu kiều đến mức nào mà quyến rũ  được chồng tôi.

Tôi và Cầm hẹn gặp nhau ở một quán cà phê. Tôi thấy hơi thấp thỏm, hối hận vì không gọi thêm mấy chị em nữa đến cho an toàn.

Cầm đến rất đúng giờ. Tôi ngắm nghía kẻ tình địch chưa hề quen biết: Váy liền quần màu trắng, dáng không cao, trông không xinh nhưng rất thanh thoát, gương mặt tươi cười, nhìn biết ngay là một cô gái hiền tính.

“Về chuyện của Thọ, tôi muốn chúng ta nói chuyện thẳng thắn”. Tôi đi thẳng vào vấn đề.

Cầm cúi đầu, rất lâu sau mới nói câu: Xin lỗi. Tiếp sau đó cô bắt đầu thuật lại quá trình quen biết của hai người.

Hóa ra Cầm và Thọ là đồng nghiệp với nhau. Trong một buổi lễ mừng công của cơ quan, hai người vô tình ngồi gần nhau. Hôm đó Thọ bị ho rất nặng, rất may Cầm lại biết một loại thuốc đặc hiệu chữa ho, liền giới thiệu cho Thọ. Sau buổi liên hoan, hai người lại về cùng đường và thế là có cơ hội chuyện trò tâm sự. Qua câu chuyện được biết, chồng Cầm bệnh mất hai năm trước, hai người chưa có con, hiện đang ở một mình. Thọ cũng được biết thêm, bình nóng lạnh nhà Cầm hỏng mấy hôm nay, tiện đường nên anh nhiệt tình đề nghị sửa giúp.

“Anh ấy giỏi lắm, chỉ loáng một cái là sửa xong”, Cầm khen Thọ đầy hào hứng, cứ như khen chính chồng mình vậy. Thực sự Thọ là người rất khéo tay, thứ gì trong nhà bị hỏng anh cũng có thể sửa được, nhưng tôi lại luôn cho rằng đây là những việc tất yếu chồng phải làm, không bao giờ nghĩ đến chuyện dành cho anh ấy một lời khen. Tôi quên mất rằng, đàn ông cũng cần khen như trẻ con vậy.

Cầm còn kể, khi nhìn thấy chậu hoa, cây cảnh của cô bày khắp nhà, mắt Thọ sáng lên. Thực ra Thọ rất thích trồng cỏ cây hoa lá, nhưng luôn bị tôi chê là vô công rồi nghề.
Từ sau đó, quan hệ giữa hai người cũng thân thiết hơn.

“Tôi không xinh đẹp, cũng không giỏi giang bằng chị. Tôi chỉ muốn làm một người con gái bình thường”.

Nghe xong trình bày của Cầm, tôi không hề cảm thấy giận, cứ như nghe chuyện của người khác, phải hồi lâu mới định thần lại, nhân vật chính trong câu chuyện là chồng mình.

Chia tay với Cầm, trời đã tối. Tôi không trở về nhà ngay mà tạt vào vườn hoa trong khu chung cư ngồi tự vấn. Tôi suy nghĩ rất lâu và bắt đầu hiểu được tại sao một người con gái bình thường như Cầm lại giành được tình yêu của Thọ, thậm chí là cảm tình của tôi. Khác với tôi, cô ấy không bao giờ lên giọng dạy bảo, không đòi hỏi này nọ, ngược lại luôn nhẹ nhàng dịu dàng, quan tâm ân cần. Giữa cô ấy và chồng tôi còn có chung một sở thích, đó là mong muốn một cuộc sống gia đình đầm ấm và chăm chút đến những góc sâu tình cảm của nhau.

Một tình địch như vậy, hỏi rằng tôi sao có thể thắng được.

Dịch giả: Ngọc Khanh
Nguồn: Truyện ngắn Trung Quốc


Trư Bát Giới chạy chức


Sau khi đi Tây Thiên lấy kinh về, được cất nhắc giữ chức Trưởng phòng Hậu cần, Bát Giới vô cùng đắc ý, chỉ riêng tiệc ăn mừng cũng đã mất mười mấy mâm. Trong bữa tiệc, ông chủ Hồ li sau khi nâng cốc chúc mừng, hỏi Bát Giới: Cái chức Trưởng phòng của bác xếp vào cán bộ nhóm mấy? Bát Giới ấp úng, chống chế: Nhóm mấy thì chưa được trên duyệt. Ông chủ Hồ li ghé tai nói thầm: Thế thì mau chạy đi, không quà cáp thì dậm chân tại chỗ thôi.

Nghe vậy Bát Giới choàng tỉnh. Đúng là mấy ngày hôm nay cứ mải vui, quên béng mất chuyện quan trọng thế này. Thứ bậc của cửa Phật rất nghiêm ngặt, chẳng biết từ đời nào đã quy định vậy rồi. Anh thuộc cán bộ nhóm nào thì được hưởng đãi ngộ theo nhóm đó, bất kể là gánh hàng dắt ngựa hay hàng yêu phục quái, nếu không có một thứ bậc nhất định thì coi như làm uổng công. Hơn nữa, Bát Giới mà không có cái thứ bậc ra hồn một chút thì cái bụng phệ này sao còn bệ vệ được.

Bát Giới liền đi tìm Mộc Tra. Vị này là thư ký của Quan Âm Bồ Tát, là chỗ anh em thân tình với Bát Giới. Bát Giới đem hết tâm sự nói với Mộc Tra và xin được tham mưu. Chuyện này có thể nói là đã quá đơn giản đối với Mộc Tra, bởi vì việc đề bạt trong cửa Phật đều qua tay ông ta, trình tự đánh giá cán bộ, tốt xấu đều do Mộc Tra phán hết, ai dám nói là mình không có tỳ vết? Bát Giới thấy rõ mặt này của ông ta, vì thế không tiếc đầu tư vào đó. Mộc Tra nói với Bát Giới: Việc này phải bảo cấp trên của anh là Đường Tăng viết một cái đơn gửi lên. Sau khi đơn đến tay tôi, quan trọng nhất là phải lo “bôi trơn” chỗ Quan Âm Bồ Tát, đồng thời cũng phải đấm bóp cho Hồng Hài Nhi và Hắc Hùng tinh một tý, để bọn họ phụ họa nhất trí trong hội nghị, chí ít thì cũng không có ý kiến phản đối. Riêng chỗ tôi đây thì cứ yên tâm đi.

Bát Giới nói: Xin anh quan tâm chiếu cố, mọi việc đều nghe theo anh, công việc xong nhất định sẽ hậu tạ.

Bát Giới đến gặp Đường Tăng nói, cái chức Trưởng phòng của con mà không xếp nhóm cán bộ thì khó triển khai công việc, vậy nên mong sư phụ viết cho cái công văn, xin cấp trên phê chuẩn. Đường Tăng hiểu suy nghĩ của Bát Giới, nhưng cũng không tiện nói thẳng ra. Bởi vì Đường Tăng cũng có tính toán riêng: Mình tuy là trưởng đoàn sang Tây Trúc lấy kinh, nhưng bây giờ vẫn thuộc nhóm thấp nhất trong cửa nhà Phật – nhóm Trụ trì. Nếu Bát Giới được cất nhắc, mình vừa là sư phụ vừa là cấp trên của Bát Giới, ắt là nước lên thì thuyền cũng lên. Vì vậy cho nên vui vẻ nhận lời đề đạt giúp.

Trời vừa sẩm tối, Bát Giới liền xách túi quà to kèm theo một phong bì dày cộm đến nhà Quan Âm Bồ Tát. Quan Âm Bồ Tát đang ở nhà xem ti vi, thấy Bát Giới vào liền tươi cười mời ngồi. Sau khi hỏi thăm sức khỏe, Bát Giới liền đi thẳng vào vấn đề. Quan Âm Bồ Tát nghe xong, cười nói: Trưởng phòng mà không xếp nhóm cán bộ thì đúng là không được. Sư phụ của ngươi thuộc nhóm Trụ trì, vậy xếp ngươi vào nhóm phó Trụ trì đi. Đến lúc này Bát Giới mới hiểu ra nguyên do tại sao Đường Tăng vui vẻ viết báo cáo cho mình. Bát Giới vội đáp: Thầy của con hiện tại là sứ giả đi lấy kinh của Đại Đường, đúng ra phải xếp vào nhóm La hán từ lâu rồi. Vả lại, cấp phó của con là Quan Tiểu Âm cũng còn thuộc nhóm phó La hán nữa là…

Quan Tiểu Âm là cháu ngoại của Quan Âm Bồ Tát, mới 14 tuổi, đang học Trung học, giữ chức phó Phòng Hậu cần, nhận lương nhưng không phải đến cơ quan.

Quan Âm Bồ Tát sững người một lát, nghĩ bụng: Cái thằng ngốc tai dài này, hắn đã nắm đúng thóp của mình. Tuy nhiên, về lí mà nói thì đoàn đi lấy kinh đúng là trên cả nhóm phó La hán. Quan Âm Bồ Tát liếc nhìn túi quà nặng và phong bì dày cộm mà Bát Giới mang đến, bèn nói: Ngươi nói có lý đấy, phù hợp với nguyên tắc thống nhất chức quyền. Tuy nhiên, chỗ ta đây chỉ được phê chuẩn đến chức phó La hán, còn cao hơn nữa thì phải xin ý kiến Phật tổ Như Lai. Ngoài ra, bậc của Đường Tăng, Ngộ Không và Ngộ Tĩnh cũng phải đồng thời xem xét, sau khi ta nghiên cứu sẽ thông báo cho các ngươi. Nhưng cho dù kết quả như thế nào, các ngươi cũng đều phải nỗ lực làm việc, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp nhà Phật. Bát Giới nghe ngay ra ý ở ngoài lời, vội nói: Cám ơn Quan Âm Bồ Tát, lần sau con và sư phụ sẽ cùng đến báo cáo tình hình công việc.

Buổi tối, Mộc Tra hẹn với Hồng Hài Nhi và Hắc Hùng tinh, cùng đi với Bát Giới đến Túy Tiên lầu làm một bữa no say, sau đó lại đến sàn nhảy động Bàn Tơ quậy suốt đêm. Lúc chia tay, Bát Giới còn dúi cho ba vị khách quý ba túi quà to.

Vài hôm sau, Mộc Tra gửi quyết định xếp nhóm cán bộ đến. Trong quyết định ghi rõ: Đường Tăng và Bát Giới xếp nhóm phó La hán; Tôn Hành giả và Sa Tăng vào nhóm phó Trụ trì.

Đường Tăng mừng ra mặt vì mình chẳng mất đồng nào mà cũng được xếp vào nhóm cao hơn. Sa Tăng cũng vui vì nhóm phó Trụ trì tuy không cao, nhưng dù sao cũng thuộc hàng lãnh đạo rồi, đồng thời cũng rất biết ơn Bát Giới, làm quan mà không quên cất nhắc chiến hữu năm xưa. Nhìn thấy bộ dạng sung sướng của bọn họ, Tôn Ngộ Không đầy bực tức, nghĩ bụng: Gặp yêu tinh thì bắt ta đương đầu, có món gì hời thì gạt ta sang một bên. Sư phụ thì còn chấp nhận được, nhưng Trư Bát Giới thì hỏi có tài cán gì mà tại sao lại được xếp vào nhóm cao hơn ta? Vậy nên Ngộ Không nói thẳng thừng với Mộc Tra: Phó Trụ trì thì khác gì cái chức Bật mã ôn, ta đây không thèm.

Đường Tăng thấy vậy, ôn tồn khuyên bảo: Ngộ Không! Thế gian tất cả đều là hư vô. Chúng ta là người xuất gia, phải cống hiến không đòi hỏi, không được so đo, tính toán. A di đà Phật!

Tác giả: Nhiệm Phi Hổ
Dịch giả: Ngọc Khanh
Nguồn: Tiểu thuyết mini – Trung Quốc; Số 3-2001