Friday, November 7, 2014

Bàn lại vấn đề tác giả “Bình Ngô đại cáo" và “Quân trung từ mệnh tập”

 

Bài liên quan:
Cho đến nay, có lẽ chẳng còn mấy ai không nói và viết rằng: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập đều là những tác phẩm của Nguyễn Trãi. Sự thực, vấn đề tác giả ở đây không thể quan niệm đơn giản như các tác phẩm văn chương khác.
Theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn:“Lê Lợi lên ngôi vua tại điện Kính Thiên...đặt tên nước là Đại Việt, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ, ban lời cáo rằng...”[1]
Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua đã bình được giặc Ngô, bố cáo khắp thiên hạ, lời cáo như sau...”[2]
Như vậy, trong chính văn của các bản chính sử nói trên đều không ghi tên ai là tác giả đích thực bài đại cáo. Riêng sách Đại Việt sử ký toàn thư (NXB Khoa học xã hội-1972) dưới bản dịch bài cáo có chua dòng chữ: (Bài Đại cáo này là do văn thần Nguyễn Trãi soạn). Lời phụ chú này tất nhiên không phải là chính văn, thì, một là sự việc không được chính thức ghi nhận, hai là do người nào đó thêm vào sau khi văn bản chính hoàn thành. Bản thân Nguyễn Trãi chỉ được gọi là “văn thần”, không có chức vụ, tước vị, không phải văn chép sử. Ở đây, chúng ta chú ý chữ “soạn” với chữ “tác”, chữ “tác” với chữ “thuật”. Nếu bài cáo là của Nguyễn Trãi, do Nguyễn Trãi tự làm thì phải dùng thữ “tác” (sáng tác). Chữ “soạn” thường dùng cho loại văn từ hàn, tức là loại văn bản mang tính quốc gia, do Viện Hàn lâm soạn thảo theo lệnh bề trên. Bài Đại cáo bình Ngô trước hết là một văn kiện chính trị, lịch sử, có lẽ vì đậm chất văn chương nên được người soạn sách giáo khoa đưa vào môn văn trường học, coi như một tác phẩm văn học, bởi thế Nguyễn Trãi soạn giả, nghiễm nhiên thành Nguyễn Trãi tác giả! Nói rõ hơn về phương diện chính trị-lịch sử, Đại cáo là lời của Hoàng đế Lê Lợi bố cáo với thiên hạ. Nhà vua chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước thiên hạ về mỗi câu, mỗi chữ trong bài cáo. Nguyễn Trãi giỏi thơ văn, nhưng ông không thảo ra bài cáo với tư cách tác giả, mọi thứ giấy tờ khi được nhà vua phê duyệt thì văn bản ấy thuộc về triều đình, của triều đình, người soạn thảo không còn phải chịu trách nhiệm gì cả. Với Nguyễn Trãi, lúc ấy chức vụ của ông là thừa chỉ. Chữ “thừa chỉ” nói rõ nhiệm vụ của ông là vâng lệnh vua (thừa) soạn thảo giấy tờ (chỉ). Đối với bài Cáo bình Ngô vô cùng quan trọng này, Nguyễn Trãi soạn xong dâng lên, (thực tế có thể đã được sửa chữa, bổ sung nhiều lần theo ý Lê Lợi, trước khi bố cáo-HTC) được Lê Lợi châu phê là thở phào nhẹ nhõm như trút xong gánh nặng, coi như xong phận sự, hết trách nhiệm  Nếu Nguyễn Trãi dám nhận mình là tác giả, sau khi tác phẩm đã tuyên cáo rồi, bị phát hiện hay phê phán có chỗ sai, chữ nào lỗi thì không khỏi mắc tội với triều đình. Cho nên, công việc ấy thuộc về nguyên tắc, soạn giả, không thể thành tác giả. Cho nên, sử sách không ghi chép Chiếu dời đô do ai viết, mà chỉ biết là của Lý Công Uẩn. Đối với các sự kiện chính trị-lịch sử quan trọng khác cũng vậy.
Đi vào nội dung Bình Ngô đại cáo, vận dụng phương pháp nghiên cứu văn bản, chúng ta có thể tìm ra kết luận trong cách so sánh thú vị:
Lê Lợi nói:
“Việc dụng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay ta hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh trả lại đất nước ta, không còn trở lại xâm lấn, thì ta còn cần gì hơn nữa, hà tất phải giết hết để kết mối thù với nước lớn?”[3]
Bình Ngô đại cáo viết:
“Chúng đã sợ chết tham sống mà thực muốn cầu hòa
Ta lấy toàn dân làm cốt mà cho dân được nghỉ.
...Xã tắc do đó được yên
Non sông do đó đổi mới”

Lê Lợi nói:
“Xưa vì họ Hồ vô đạo, cho nên giặc Minh nhân đó mà cướp nước ta, sự tàn ngược tưởng các ngươi đều thấy cả”[4]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Vừa đây họ Hồ chính sự phiền hà
Để đến nỗi nhân tâm oán giận
Giặc Minh thừa dịp làm hại dân ta
...Thui dân đen trên lò bạo ngược...”

Lê Lợi nói:
“Các vị tướng giỏi thời xưa thường bỏ chỗ kiên cố mà đánh vào nơi nứt rạn, lánh chỗ  nhiều, mà đánh chỗ ít...”[5]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ
Lấy ít địch nhiều, hay dùng quân mai phục”

Lê Lợi nói:
“Binh pháp có câu: không cần đánh mà đối phương phải khuất phục. Đó là thượng sách của nhà binh vậy!”[6]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Ta mưu đánh vào lòng, không chiến mà cũng thắng”
Như vậy khá rõ là nhiều ý kiến (lời dụ bảo) của Lê Lợi đã được Nguyễn Trãi (vâng mệnh) đưa vào bài đại cáo một cách khéo léo, tài tình. Cho đến những câu:“Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”, chúng ta tưởng đó là tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi thì cũng là sự khái quát hóa súc tích chủ trương và hành động của Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn. Ví dụ khi bình định châu Trà Long (1424) Lê Lợi ra lệnh các quân sĩ không ai được xâm phạm mảy may của dân, còn các quân địch đều được xá tội hết, không giết một tên nào. Hoặc khi Vương Thông sắp kéo quân về nước, các tướng sĩ và người nước ta vì căm giận nên khuyên vua giết cả. Lê Lợi bảo rằng: trả thù báo oán là thường tình của mọi người, mà không thích giết người là bản tâm của người nhân. Vả lại, người ta đã hàng rồi mà giết thì thì việc bất tường (tức không lành, không phải điều tốt-HTC) không gì bằng. Chi bằng tha mạng cho ức vạn người mà tuyệt mối chiến tranh cho sau này...[7]
Chính Nguyễn Trãi cũng đã từng ca ngợi tư tưởng lớn ấy của hoàng đế Lê Lợi trong các bài thơ, phú chữ Hán của ông như Hạ quy Lam Sơn I, Hạ quy Lam Sơn II, Chí Linh sơn phú...
-Nhân nghĩa duy trì quốc thế an
(Giữ nhân nghĩa để thế nước được yên)
-Đương thời chí dĩ tại thương sinh
(Bấy giờ cái chí vua đã thương dân)
- v.v...[8]
Trong bài đại cáo có một số chỗ chắc chắn nằm ngoài ý nghĩ và quan niệm của Nguyễn Trãi, như đối với họ Hồ, ông coi là bậc anh hùng, nhưng bắt buộc phải nói lời phê phán rất nặng. Chứng cớ là bài Quan hải, ông viết: “Anh hùng di hận kỷ thiên niên” (Anh hùng để hận mấy ngàn năm) nhưng ở Bình Ngô đại cáo, họ Hồ lại bị coi là kẻ có tội phản dân hại nước. Lại nữa, cách gọi Minh thiên tử Trung Hoa bằng những chữ: “Tuyên Đức chi giảo đồng” (thằng nhãi ranh Tuyên Đức) là của Thuận Thiên hoàng đế, không thể nào một chức quan Hàn lâm như thừa chỉ Nguyễn Trãi dám tự ý dùng bừa cho bài đại cáo nghiêm trang...
Trường hợp Quân trung từ mệnh tập cũng có tính chất tương tự.
Quân trung từ mệnh tập còn gọi là Quân trung từ lệnh tập. Ngay ở tên sách (do người sưu tầm đặt) mấy chữ “từ lệnh” hay “từ mệnh” đã chỉ rõ đây là những giấy tờ được soạn thảo theo mệnh lệnh của Bình Định vương Lê Lợi trong thời gian chống giặc Minh. Những thư từ gửi quan tướng nhà Minh, tất nhiên Lê Lợi phải cho nội dung trước để thừa chỉ Nguyễn Trãi nắm được ý đồ mà sai khiến ngòi bút. Đối với quan tướng nhà Minh thâm hiểm, xảo quyệt khó lường trước, có thể nào Lê Lợi lại “khoán trắng” cho Nguyễn Trãi? Hẳn là từng bức thư gửi đi, mỗi giấy tờ giao dịch, phải được soạn thảo dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Lê Lợi. Về phía Nguyễn Trãi, một bậc đại trí, lẽ nào không hiểu cái thế của mình thế nào? Ông là dòng dõi bên ngoại nhà Trần, hai cha con từng làm quan nhà Hồ, được Lê Lợi dùng nhưng chắc đâu đã được tin. Trong văn chương, ông luôn luôn nhắc đến “đạo làm con mấy đạo làm tôi” của mình như để khẳng định (hay thanh minh?) tấm lòng trung hiếu trước sau không hề thay đổi. Nhưng triều Lê có tin ông đâu!
Khi tiến quân vào bao vây thành Đông Đô, Lê Lợi ban lời dụ: “Có bậc văn nhân tài tử nào chưa ra làm quan mà có thể viết thư đưa vào thành Đông Đô, khuyên được tướng tá trong đó mở cửa thành ra hàng hoặc giảng hòa để về nước, sẽ đặc cách trọng dụng ngay”.
Như vậy, ở lĩnh vực “từ lệnh” trong quân, Lê Lợi không chỉ tín nhiệm riêng Nguyễn Trãi, và Nguyễn Trãi cũng không phải là người độc quyền soạn thảo mọi thư từ giao dịch với quân Minh. Mặt khác, Lê Lợi nhằm vào loại “văn nhân tài tử chưa ra làm quan” để kêu gọi, tức là trong đám “văn nhân tài tử” đã ra làm quan không có ai đương nổi việc vô cùng khó khăn ấy. Cho nên Quân trung từ mệnh (do Trần Khắc Kiệm sưu tầm, đời Lê Thánh tông bị thất lạc, gần 400 năm sau, đời Minh Mạng, Thiệu Trị, nhóm Dương Bá Cung mới hợp sức sưu tầm lại) chắc có cả những bài không do Nguyễn Trãi soạn thảo[9]. Hơn nữa, chúng ta không nên đề cao tuyệt đối những gì chỉ có giá trị tương đối. Bấy giờ giặc Minh mưu mô rất xảo quyệt, thái độ rất ngoan cố. Nếu chúng không bị dồn đến chân tường thì thư gọi hàng hay giảng hòa phỏng có tác dụng gì? Mấy lần Vương Thông chẳng nhận giảng hòa rồi lại trở mặt, đó sao? Thuyết phục kẻ địch để đỡ tốn xương máu cũng là phép dụng binh, nhưng quyết định chủ yếu vẫn ở lưỡi gươm ngoài chiến trường, đâu phải văn bản do ngòi bút nơi màn trướng. Nhận định rằng: “Chỉ dùng lời lẽ viết trong thư, Ức Trai tiên sinh đã khuất phục được bọn chúng, bắt buộc vua quan nhà Minh phải giảng hòa với ta”[10] thực là hết sức sai lầm!
Có một thời chúng ta đề cao vai trò lãnh tụ của Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa Lam Sơn mà quên mất lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn là Lê Lợi chứ không phải ai khác. Đầu năm 1428, triều đình Lê định hạng các công thần, gồm 221 người, gồm ba bậc, trong đó không có Nguyễn Trãi. Sau, triều đình mới “lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm quan phục hầu, tư đồ Trần Hãn làm tả tướng quốc, khu mật sứ Phạm Văn Xảo làm thái bảo, đều cho quốc tính” (Đại Việt sử ký toàn thư). Sự thực, quan phục hầu hay tả tướng quốc hay thái bảo đều là hư hàm. Vì thế Trần Hãn, Phạm Văn Xảo sớm bộc lộ thái độ bất mãn, tiêu cực để chuốc lấy tại vạ. Chỉ có Nguyễn Trãi vẫn ôm ấp tấm lòng trung để hơn mười năm sau cũng phải rơi đầu dưới tay bọn đao phủ.
Chức thừa chỉ học sĩ của Nguyễn Trãi là thực vị, vì ông là người làm giấy tờ giỏi. Khi Lê Thánh tông minh oan cho Nguyễn Trãi, cho biết Nguyễn Trãi là một mưu sĩ nơi màn trướng hồi kháng chiến chống quân Minh (không nên lầm mưu sĩ với quân sư). Nhưng nhận định toàn bộ cuộc đời Nguyễn Trãi, Lê Thánh tông ví ông với sao Khuê là khe tài văn chương và tấm lòng trung của Ức Trai. Lê Thánh tông hoàn toàn đúng khi khái quát Nguyễn Trãi như vậy. Đó là cốt lõi làm nên nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi.
Nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi phải có vị trí xứng đáng trong sách giáo khoa. Nhưng Bình Ngô đại cáo và Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi không thể ký tên với tư các tác giả. Cũng không phải cá nhân Lê Lợi, mà là Thuận Thiên hoàng đế, lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn, vị vua “Đại thiên hành hóa” (lời mở đầu bài cáo) mới xứng danh với bài đại cáo. Hoàng đế Lê Lợi đứng tên vào bài đại cáo, một sự kiện lớn lao trong lịch sử, làm vinh quang cho đất nước, cũng làm vẻ vang cho Nguyễn Trãi thừa chỉ. Chắc anh hồn Nguyễn Trãi dưới suối vàng sẽ mãn nguyện khi chúng ta hiểu ông, giúp ông giữ đúng nghĩa vua tôi, đạo thần tử mà sinh thời ông đã coi như một lý tưởng cao quý trong ứng xử (Có lẽ nên ghi: Bài Bình Ngô đại cáo của Thuận Thiên Hoàng đế (Lê Lợi) với chú thích: Nguyễn Trãi với chức trách thừa chỉ vâng soạn theo ý của vua Lê Lợi là đúng đắn nhất).
Đối với Quân trung từ mệnh tập, phải thận trọng và tế nhị hơn. Trong khi chưa xác minh được phần văn bản, có thể tạm coi như thừa chỉ Nguyễn Trãi thảo, nhưng không nên nhắm mắt đề cao. Chỉ có chủ thể của những bức thư ấy, không ai khác ngoài Bình Định vương Lê Lợi: “Bảo mày giặc dữ Phương Chính!” Nếu Lê Lợi không bảo như thế, đời nào Nguyễn Trãi dám viết như thế? Đó chỉ là một ví dụ nhỏ trong trăm ngàn ví dụ. Bởi vậy, chúng ta không thể coi Nguyễn Trãi là “tác giả” Quân trung từ mệnh tập, theo đúng nghĩa chữ tác giả, một chủ thể sáng tạo.[11]
Theo Hoàng Tuấn Phổ
Tuấn Công thư phòng blog
Bài liên quan:

[1] Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[2] Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[3] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[4] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[5] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[6] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[7] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[8] Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi tập
[9] Trường hợp thơ chữ Hán trong Ức Trai di tập cũng vậy, có thể không ít bài không phải của Nguyễn Trãi.
[10] Tựa Ức Trai di tập của Nguyễn Năng Tĩnh (bản dịch của Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm)
[11] Bài viết này đã công bố trên Báo Văn hóa-thông tin Thanh Hóa số ra ngày 26/6/1999 và in lại trong “Trong mắt tôi”-NXB Văn hóa dân tộc-2000. *Nhân đọc bài báo nêu vấn đề “Ai là tác giả “Quân trung từ mệnh” và “Bình Ngô đại cáo” của Cao Sơn Hải (Báo Văn hóa-thông tin 28-4-1999). Tuấn Công thư phòng đăng lại để lưu tư liệu và chia sẻ với những người chưa đọc.


Tuesday, June 17, 2014

Cái đầu lâu mất tích


Bình Định vương ngồi buông thõng chân trên hòn đá nổi tự nhiên ở đầu thung Nai. Quanh ông, các tướng văn, võ đứng quây quần. Một anh lính hối hả đi tới chỗ Bình Định vương:
- Trình nhà Vương. Chúng con tìm mãi vẫn không thấy đầu thằng Phùng Quý ở đâu cả!
Bình Định vương khẽ nhếch mép cười:
- Tìm mãi vẫn không thấy! Hắn có phép thần thông hay các ngươi trông gà ra cuốc?
Trận Sách Khôi này, quân giặc điều tới mấy vạn binh mã do Tổng binh Giao Chỉ Trần Trí chỉ huy cùng các tướng khét tiếng như Mã Kỳ, Phùng Quý... vây chặt nghĩa quân Lam Sơn định quét gọn một mẻ lưới. Bình Định vương họp các tướng bàn: “Quân giặc bao vây bốn mặt... Đây chính là nơi binh pháp gọi là đất chết, đánh nhanh thì còn, chậm trễ thì mất”. Tướng sĩ đều quyết phá vòng vây giặc, và nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển bại thành thắng. Trần Trí, Mã Kỳ thua to, rút chạy về thành Đông Quan. Tin chém được đầu Tả tham tướng Phùng Quý càng làm nghĩa quân nức lòng. Ai cũng muốn coi mặt tên tướng độc ác này. Cho nên chuyện cái đầu Phùng Quý bỗng dưng biến mất, khiến mọi người xôn xao bàn tán.
Sau một lát yên lặng. Bình Định vương hỏi người lính đưa tin:
- Con có rõ mặt Phùng Quý không?
- Con không thể nào lầm được. Chính con là nô lệ của hắn, hắn đã đầy đọa con, thích chữ lên trán con...
Như để làm chứng cho lời mình, anh lính giật phăng tấm khăn bịt đầu, để lộ vầng trán in hằn những vết sẹo dọc ngang. Anh bịt lại khăn rồi sụp lạy:
- Đội ơn đức Vương, con đã hả mối hận thù riêng...con chỉ tiếc không được tự tay mình lấy đầu Phùng Quý!
Bình Định vương ra hiệu cho anh lính đứng dậy. Người hỏi:
- Ai chém rụng đầu Phùng Quý?
- Trình đức Vương, người có công cứu con thoát khỏi nanh vuốt Phùng Quý cũng chính là người chém rụng đầu hắn!
Anh lính liền thưa.
- Ai nhỉ?
- Trịnh Khả!
Làn sóng xôn xao trong đám đông nổi lên. Tướng sĩ vây quanh Bình Định vương reo mừng và cùng đưa mắt dớn dác, ngó tìm Trịnh Khả. Phải! Đúng là Trịnh Khả, viên tướng mới độ tuổi hai mươi đã múa giáo đâm Phùng Quý ngã ngựa rồi cắt lấy đầu...
- Trịnh Khả đâu rồi?
Trịnh Khả vượt ngục thành Tây Đô rồi đến Lam Sơn nương nhờ họ Lê từ lúc tuổi còn niên thiếu, được Bình Định vương thương yêu như con cháu trong nhà. Người vừa cất tiếng gọi thân thiết vừa nhìn bên phải, ngó bên trái xem Khả đứng náu mình ở đâu, song Bình Định vương và các tướng sĩ đều chẳng ai thấy Khả đâu! Trịnh Khả đã mất tích cùng với cái đầu của Phùng Quý!
- Phải đi tìm ngay Trịnh Khả!
Bình Định vương dứt lời, các tướng sĩ ào lên chia nhau đi khắp ngả...
Tại một góc rừng hẻo lánh, Trịnh Khả lúi húi dùng đại đao đào đất đắp thành một nấm mộ. Cái áo của người cha trao cho Trịnh Khả hôm từ biệt ra đi đã sáu bảy năm trời trôi qua, trải bao phen vào sinh ra tử, vẫn được giữ gìn nguyên vẹn.
Năm Khả mười sáu tuổi, Phùng Quý bắt về làm nô, định sẽ thiến đi để biến anh thành con vật cho dễ sai khiến. Khả lập mưu trốn thoát. Phùng Quý tức giận bắt cha Khả tra tấn đến chết. Khả tuy đã từ biệt cha nhưng vẫn lén lút tại nhà bà cô bên kia sông để nghe ngóng tình hình. Đến ngày thứ ba, Khả bỗng thấy ruột gan mình nóng như thiêu. Chờ trời tối, Khả bơi xuôi dòng sông Mã tìm gặp thằng bạn con bà hàng nước ven đê. Nó cho biết lúc chiều quân Ngô đem một ông già đã chết khô cứng, ném xuống sông. Suýt nữa Khả òa lên khóc. Khả lần tới bến, mò xuôi một quãng thấy xác cha. Khả ôm thi hài bơi ngược dòng về tới bến quê nhà, đem chôn giấu trong một lùm cây rậm. Rồi khả tìm đến Lam Sơn xin nương tựa chủ trại Lê Lợi, được ông ân cần dạy bảo mọi điều. Năm ông mở hội thề Lũng Nhai, Khả mới mười bảy tuổi, phải khai tăng thêm một tuổi để dự hàng nghĩa sĩ tuyên thệ một lòng giết giặc cứu nước, rửa thù nhà. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, xưng Bình Định vương, Khả được phong làm tướng đứng đầu đội quân Thiết đột (cảm tử).
May mắn sao, trận này, Phùng Quý lại dẫn xác đến và Khả gặp dịp giáp mặt kẻ tử thù. Hắn sững người một chút rồi vung siêu đao thúc ngựa chồm tới. Khả bình tĩnh múa giáo đón đỡ. Cuối cùng, Phùng Quý bị đâm một nhát ngã lăn xuống đất. Khả cắt đầu kẻ thù chạy biến vào rừng...
Không thể về bến sông quê nơi người cha yên giấc ngàn năm. Khả dùng tấm áo cha thay hài cốt, vun đất thành nấm mộ giữa rừng sâu. Anh đặt cái đầu Phùng Quý xuống trước mộ làm lễ cúng cha:
- Lạy cha sống khôn chết thiêng...
Hình ảnh người cha già yếu đói khổ bị giặc tra tấn đến tả tơi da thịt hiện lên trong tâm tưởng khiến Khả nghẹn lời, lưng khòm mãi xuống, hay tay ôm choàng lấy nấm mộ...Đến khi anh ngửng nhìn lên thì...
Không biết từ lúc nào, Bình Định vương cùng tướng sĩ thân cận đã tìm được đến đây. Họ đang lặng lẽ thành kính đứng trước mộ cha anh.
Hoàng Tuấn Phổ
(Tạp chí Văn nghệ thiếu nhi-1991)


Wednesday, June 11, 2014

Thơ Lê Lợi, không phải thơ Nguyễn Trãi


(Trao đổi với ông Trần Đắc Thọ)
Chúng ta đều biết bài thơ khắc trên bia đá Hào Tráng (sông Đà) là của vua Lê Lợi, nhưng mới đây, theo phát hiện của Trần Đắc Thọ, lại là của thi hào Nguyễn Trãi. Ông Thọ căn cứ vào câu “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” đã có trong bài thơ Quá hải  của Nguyễn Trãi, lại còn thấy trong bài thơ Hào tráng của Lê Lợi. 
Bia đá Hào tráng
Ông Trần Đắc Thọ viết: “Đành rằng trong cuộc sống có “những tâm hồn lớn” gặp nhau, nhưng người ta gặp nhau trong ý nghĩa, tư tưởng mà không trong từng câu, từng chữ như thế này. Việc Nguyễn Trãi sử dụng (lại) một câu thơ cũ của mình là một câu chuyện bình thường. Nhưng Lê Lợi đường đường một đấng chí tôn lại làm một việc thiếu đường hoàng như vậy thì không ổn. Thư tịch cổ thường hay tôn vinh cá nhân các vị đế vương. Trong trường hợp này, thiết nghĩ cứ viết trung thực là Lê Lợi sai Nguyễn Trãi làm thơ khắc vào vách đá núi để kỷ niệm chiến thắng”. (Tạp chí Hán Nôm số (38) 1999. Tr.44)
Theo tôi, lập luận của ông Trần Đắc Thọ trong bài “Thơ Lê Lợi hay là thơ Nguyễn Trãi”  không có giá trị thuyết phục.
Hãy cứ giả thiết Lê Lợi sai Nguyễn  Trãi làm hộ thơ cho mình. Nhưng liệu Nguyễn Trãi có dám dùng lại thơ cũ của mình để ký tên bậc chí tôn vào đó? Mà lại là thơ khắc trên vách đá, khi bị phát hiện thì Nguyễn Trãi khó thoát khỏi tội tày đình này chăng?
Chỗ dựa duy nhất của ông Trần Đắc Thọ là bài thơ Quá hải của Nguyễn Trãi. Ông Thọ viết rằng: bài thơ này “các nhà nghiên cứu cho ông (Nguyễn Trãi) đã làm hồi ông theo cha là Nguyễn Phi Khanh sang Trung Quốc khi cha ông bị giặc Minh bắt đi (1407)”. Các nhà nghiên cứu nào tài đoán mò như thế? Quân Minh bắt giải về kinh đô Kim Lăng (Trung Quốc) hai vua Hồ và một cận thần quan trọng như Nguyễn Phi Khanh, họ đi đường thuỷ hay đường bộ? Tài liệu nào ghi chép họ vượt qua biển Đông hay chỉ có chuyện Nguyễn Trãi tiễn cha đến ải Nam Quan rồi phải trở về? Chúng ta đọc lại hai câu kết bài thơ “Quá hải” được ghi là của Nguyễn Trãi:
Biển chu tiễn ngã triều thiên khách
Trực giá kình nghê khóa hải đông.
(Con thuyền nhỏ đưa ta làm khách chầu thiên tử
Cưỡi cá kình cá nghê mà vượt biển đông).
Thế là thơ nói về người đi sứ rồi (triều thiên khách). Nguyễn Trãi chưa hề đi sứ, cũng không thể dễ dàng vượt biển Đông đến Trung Quốc. Ông phải cải trang làm đầy tớ theo tiễn người cha mang tội chống lại giặc Minh, dù đi đường biển cũng chẳng có được phong thái ung dung của tác giả bài thơ Quá hải.
Lại xem thơ Đường luật, câu “phá” không thể giống câu “luận”. Câu “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” ở vị trí câu “phá” của bài thơ Hào tráng thích hợp hơn ở vị trí câu “luận” của bài thơ Quá hải. Giả sử Nguyễn Trãi có làm hộ thơ cho Lê Lợi, thì sao một tài thơ như ông lại đem câu “luận” trong bài thơ của mình gán ghép vào làm câu “phá” cho bài thơ Hào tráng?  Nguyễn Trãi mà kém cỏi đến thế kia ư?
Đến đây, ông Trần Đắc Thọ và bạn đọc hẳn phải chất vấn tôi rằng: cho dù bài Quá hải khó tin của Nguyễn Trãi, thì vấn đề khó hiểu của câu thơ “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” vẫn còn đó! Tôi xin trả lời: Bài Hào tráng đã khắc ghi rõ ràng trên vách đá kèm ngày, tháng, năm cụ thể, còn bài Quá hải là thơ sưu tầm, không những tam sao thất bản mà lầm lẫn đầu Ngô mình Sở cũng là chuyện thường thấy. Khi bị hoạ tru di, thơ văn Nguyễn Trãi đều phải đem đốt hết, ai tàng trữ tất mắc tội với triều đình. Ba mươi năm sau, Lê Thánh Tông khai phục chức tước cho Nguyễn Trãi, sai người sưu tầm di cảo của ông thì không còn được mấy. Sau đó, chính tập di cảo này cũng bị mất! Gần 400 năm trôi qua, biết bao vật đổi sao dời, ông Dương Bá Cung mới tiến hành sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi! Trong bài tựa ở đầu bộ Ức Trai di tập, Dương Bá Cung viết: “Tôi thường đã có đi từ Nam ra Bắc, gặp người nào hạng sĩ phu tôi liền dò hỏi xem di cảo của Ức Trai  tiên sinh có còn sót lại ở đâu không? Tôi mong hoạ hoằn cũng có tìm được nhưng tiếc rằng sau khi binh lửa loạn ly, nhưng tác phẩm ấy không còn tụ tập được mấy!” (nhóm Trần Văn Giáp dịch).
Chúng ta khâm phục sự kiên tâm bền chí của Dương Bá Cung. Chúng ta cũng cảm ơn ông đã đem trả lại cho đời một tập di cảo vô giá. Nhưng chúng ta không vì thế mà không cẩn thận khi sử dụng tài liệu. Chính vì tinh thần khoa học, nhóm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Trãi gồm các vị túc nho: Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình (Viện văn học), trong số 105 bài đã lọc ra 17 bài xếp vào phần “tồn nghi”, nghĩa là những bài mà các ông nghi ngờ không phải thơ Nguyễn Trãi. Theo ý tôi, trong số những bài các cụ thận trọng xếp vào “tồn nghi”, có những bài đã đủ sở cứ để khẳng định không phải là thơ Nguyễn Trãi. Tôi xin lấy bài Lãnh  noãn tịch làm ví dụ. Bài này có hai câu kết:
Cao đường bất thất ôn lương hậu
Khước hận thần hôn định tĩnh thì!
(Cha mẹ không thiếu sự quạt nồng ấp lạnh
Chỉ ân hận những khi sớm thăm tối viếng mà thôi!)
(Nhóm Phan Võ dịch)
Theo tiểu sử Nguyễn Trãi, ông sinh năm 1380, bị mồ côi mẹ (bà Trần Thị Thái) khi chưa lên mười tuổi, nhưng tác giả bài thơ lại còn đủ cả cha mẹ và hai cụ sống phong lưu, đầy đủ!
Bài Quá hải tuy không bị nhóm dịch giả trên xếp vào loại “tồn nghi”, nhưng thực ra chúng ta đã đủ căn cứ để tin rằng nó không phải là thơ Nguyễn Trãi. Bên cạnh đó, cũng còn ít bài nữa, nếu chúng ta chưa có thể loại bỏ khỏi thơ chữ Hán Nguyễn Trãi một cách thẳng thừng thì cũng nên đưa chúng sang phần “tồn nghi”. Ví dụ:  Ký hữu (bài số 16), Ký cữu Dị Trai Trần Công (bài số 23), Loạn hậu cảm tác (bài số 26), v.v… Tôi nghĩ 17 bài “tồn nghi” các cụ dịch giả đã đưa ra là xác đáng, nhưng chưa đủ.
Tóm lại vấn đề văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Trãi không bình thường, đòi hỏi người nghiên cứu phải thận trọng với tinh thần phê phán khoa học.
Trở lại bài thơ Quá hải mà Trần Đắc Thọ đã dựa vào đó để đặt vấn đề “Thơ Lê Lợi hay thơ Nguyễn Trãi”  và sau đó khẳng định là thơ Nguyễn Trãi. Bây giờ chúng ta không tin được bài Quá hải là thơ Nguyễn Trãi thì không có lý gì ông lại là tác giả bài thơ Hào tráng khắc trên vách đá bên cạnh Thác Bờ. Quá hải chẳng những không thể là thơ Nguyễn Trãi mà bản thân nó về phương diện văn bản cũng có chỗ không thể chấp nhận được như đã trình bày ở trên. Nhưng tại sao câu thơ Lê Lợi lại thấy trong bài Quá hải? Vấn đề không có gì khó hiểu. Những câu thơ hay như: “Hào khí tảo không thiên chướng vụ, Tráng tâm di tận vạn trùng san” lại khắc ghi trên bia đá, bao giờ cũng được nhiều người biết đến và nhớ thuộc. Lâu dần (trải qua gần 400 năm chứ ít đâu!) người ta quên tác giả, quên cả xuất xứ, nên dễ đem gán ghép vào bài thơ khác rồi cung cấp cho người sưu tầm (Dương Bá Cung). Đến như thơ cụ Nguyễn Khuyến với cụ Tú Xương cùng sống ở thời kỳ cận đại vẫn bị lẫn lộn với nhau ở một số bài! Âu đó cũng là chuyện thường tình khi thơ đi vào cuộc sống!
Cuối bài báo của mình, ông Trần Đắc Thọ còn nhắc thêm 4 bài thơ Hạ tiệp của Nguyễn Trãi để chứng minh cho lập luận của mình. Tôi cho rằng nhắc đến thơ Hạ tiệp của Nguyễn Trãi tức là ông Trần Đắc Thọ đã tự bác bỏ mình rồi!
Chúng ta hãy đọc lại bài Hạ tiệp thứ nhất để thấy câu 5 và câu 6:
Sơn thú dĩ văn thu Ngụy Bác
Thần khuê hựu kiến khắc Yên Nhiên
(Nghe tin lính đồn thú trên núi thu hồi trấn Ngụy Bác
Lại trông thấy nhà vua cho khắc (công trạng) vào đá núi Yên Nhiên
(Nhóm Phan Võ dịch)
Thế là Nguyễn Trãi tự nói rõ mình không phải người trong cuộc mà chỉ được nghe, thấy những sự kiện lịch sử: chiến công và thơ của Lê Lợi đã khắc lên núi đá ngay sau chiến thắng. Trong lời “Tựa” khắc ở trên bài thơ, Lê Lợi nói rõ: “Ta đi đánh Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để bảo cho đời sau biết mưu kế giá ngự nhung địch; nhung địch ở xa mặt người dạ thú, nếu có bội bạn, phải tiêu diệt ngay, mà phương lược tiến đánh thì bắt đầu tiến quân từ hai trấn Thao Giang và Đà Giang là hơn cả” (Phạm Trọng Điềm dịch). Trong bài thơ của mình, ông Trần Đắc Thọ, tại sao không hề nhắc đến lời tựa này, hay là riêng lời tựa này ông công nhận của Lê Lợi chứ không phải của Nguyễn Trãi?
Nhân đây, tôi muốn lưu ý thêm là ở bài thơ Hào tráng cũng như bài thơ Hoài Lai khi đánh Đèo Cát Hãn lần thứ nhất ông Lê Lợi đều dùng chữ “ngã” đều xưng “ta” ở các lời tựa:
- Lãi ngã do tồn thiết thạch can
- Đề thi khắc nham thạch
- Trấn ngã Việt tây ngu
(Bia đá Hoài Lai)
Tại sao Lê Lợi không xưng trẫm hay dư mà chỉ xưng ngã? Vì nhà vua muốn tỏ ra gần gũi với dân Mường Lễ ít nhiều còn chưa dược giáo hoá. Đó cũng là một phong cách riêng của  Lê Lợi, một phong cách độc đáo, đậm chất “Lam Sơn thôn dã”. Đặc biệt câu “Lão ngã do tồn thiết thạch can” không thể là ngôn ngữ của bất cứ tác giả văn chương uẩn súc nào, như Nguyễn Trãi chẳng hạn, vì thiếu gì chữ mà phải đem chữ “lão ngã” dùng cho vua để rước lấy tai hoạ khó lường!
Chắc các bạn cũng như tôi, chúng ta không hề có ý “tôn vinh” vua Lê Lợi, anh hùng dân tộc là nhà thơ. Và bản thân Lê Lợi cũng không có ý khoe văn chương chữ nghĩa. Nhưng đó là sự thật, Lê Lợi có để lại hai bài thơ, không chép vào thư tịch, mà khắc trên vách núi đá với mục đích chính trị và quân sự cụ thể. Dẫu thế nào thì sự thật ấy vẫn là sự thật như núi sông ấy, muôn thuở không thể xoá đi trong lòng người dân nước Việt.
Hoàng Tuấn Phổ

(Bài đã công bố trên Báo Văn hoá Thông tin Thanh Hóa, 26-8-1999)

Hoàn kiếm tước binh quyền


Đêm.

Trăng chênh chếch soi qua song cửa. Người đàn ông trung niên vẫn ngồi lặng lẽ bên bàn viết. Như là từ rất lâu rồi. Ánh sáng của ngọn bạch lạp soi rõ khuôn mặt cương nghị, đôi mày nhíu lại rồi giãn ra. Dường như ông đang suy nghĩ rất lung. Đất nước đã sạch bóng thù nhưng trăm họ qua cơn chiến chinh vẫn còn lầm than. Triều chính còn đấy trăm ngàn mối lo. Ông biết, triều cương chưa yên thì công cuộc kiến thiết quốc gia khó lòng làm nổi. Gương tày liếp của cha con Đinh Tiên hoàng năm xưa hiện rõ trong đầu ông như vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Con trai trưởng của ông, Hữu tướng quốc Tư Tề, tuy công lao lừng lẫy, thao lược gồm tài nhưng tính tình nóng nảy lại hơi kiêu ngạo. Nói dại, nhỡ đâu ông có mệnh hệ nào thì Tư Tề liệu có cầm cương được cỗ xe Đại Việt đang còn chệnh choạng? Hoàng tử Nguyên Long thì hẵng còn bé. Các tướng lĩnh như Phạm Văn Xảo, Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Trần Nguyên Hãn ... cũng đầy công lao hãn mã, binh quyền lại nắm trong tay, ra vào cung cấm vẫn được mang vũ khí. Ông thấy nguy hiểm. Họ thần phục ông. Họ đã từng vì ông, vì trăm họ Đại Việt mà vào sinh ra tử nhưng lòng người khó dò. Mấy ai trên đời vượt qua được sự mê hoặc của quyền lực và danh lợi. Chẳng phải Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn đã lấy ngôi nhà Lê, chẳng phải Lý Sảm đã mất ngôi vào tay anh em Tự Khánh, Thủ Độ đấy sao. Toàn những kẻ nắm binh quyền trong tay, nhân lúc loạn lạc mà đoạt ngôi, tranh vị. Không! Mười năm nếm mật nằm gai mới có được hôm nay. Đất đai là của ông, thần dân là của ông, vương quyền chỉ có thể là của ông. Không thể sơ suất. Đa nghi vốn dĩ là thuộc tính của kẻ làm chúa.

Ông đứng dậy, đi đi lại lại trước bàn viết. Tiếng gà đâu đó trong hoàng thành vẳng lại nhắc ông đêm đã đến canh ba. Ông vẫy tay, sai người gọi Tư Tề sang gặp ông ngay. Hai ngày nữa thủy quân sẽ thao diễn ở hồ Thủy quân. Toàn bộ tướng lĩnh Lam Sơn sẽ tham dự, toàn bộ dân chúng kinh thành sẽ tề tựu để chứng kiến sức mạnh của đoàn quân chiến thắng.

Có tiếng võ phục loạt soạt.

- Áng![1]

- Con vào đây ta có việc cần bàn.

- Thưa, con đã sai người chu toàn mọi việc cho buổi duyệt thủy binh. Áng còn điều chi cần kíp?

- À, không. Con khá biết câu chuyện chén rượu năm xưa của Triệu Khuông Dẫn?

Tư Tề chăm chăm nhìn cha, thoáng rùng mình. Thực ra việc này chàng cũng đã nghĩ nhiều nhưng lòng còn e sợ bị khép vào tội bất nghĩa nên chưa dám bẩm báo. Tuy chàng và nhà vua là tình cha con nhưng các tướng lĩnh nghĩa quân đối với cha con chàng ân nghĩa tày non. Mười năm kề vai sát cánh, chàng chưa thấy cha có điều chi không hài lòng về họ. Giờ cha đã nói thế này có lẽ ý ông đã quyết, chỉ là cần bàn thêm về mưu kế thực thi. Làm không khéo e lại đẩy trăm họ vào cảnh nồi da xáo thịt. Xét cho cùng, ngôi vị đế vương kia, một mai cũng là của chàng.

Tư Tề khẽ gật đầu với cha rồi quay người lệnh cho lính hầu lui ra ngoài. Chàng tự mình cẩn thận khép cửa. Tiếng sấm từ xa nổi lên ầm ì. Có lẽ trời sắp dông.

***
Tranh minh họa của tựa game Thuận Thiên kiếm
Mặt trời đã lên độ chừng một con sào. Cả không gian ánh vàng như mật. Mới đầu hạ nên tiết trời hẵng còn mát mẻ. Nước hồ Thủy quân dềnh lên, chung quanh hồ cờ xí tở mở, chiêng trống rộn ràng. Trên hồ, chiến thuyền xếp dài ngút mắt. Đức vua lẫm liệt đứng trên lâu thuyền, tấm chiến bào nhẹ bay trong gió. Sau lưng ông là khoảng trên chục viên văn quan võ tướng đầu triều. Tất cả đều nai nịt gọn gàng, kiếm đeo trễ bên hông. Cạnh ông, hơi lùi sau một chút là Tư Tề. Nét mặt căng thẳng.

Mặt nước hồ hơi xao động. Đúng lúc buổi diễu binh sắp bắt đầu, trăm quan đang quỳ xuống tung hô thì bỗng tiếng Tư Tề vang lên:

- Cẩn tấu Đức Hoàng thượng! Thần Kim Quy hiển linh!

Chưa ai kịp định thần thì thanh kiếm Thuận Thiên lừng lẫy đã từ tay nhà vua bay xuống mặt hồ.

- Giặc đã tan. Kiếm lệnh từ nay xin hoàn!

Dứt lời, Đức vua Thuận Thiên quỳ phục xuống, dập đầu tạ ơn thần Kim Quy. Quan văn, tướng võ nhìn nhau ngơ ngác. Viên Tả kim ngô vệ Đại tướng quân Phạm Vấn hô lớn:

- Đức Hoàng thượng muôn năm!

- Muôn năm! Muôn năm! Muôn năm!

Tiếng hô vang vọng kéo dài suốt mặt hồ. Tư khấu Lê Sát tiến lên vài bước, quỳ xuống, hai tay nâng thanh kiếm trận lên quá đầu.

- Cẩn tấu Đức Hoàng thượng! Đất nước đã thanh bình. Kẻ tôi tớ này vui mừng vì không còn cần phải xông pha trận mạc. Từ nay, tôi xin được trả lại kiếm trận, trả lại quyền điều động quân đội để rảnh rang giúp Đức Hoàng thượng kiến thiết nước nhà. Cẩn xin Đức Hoàng thượng chuẩn tấu!

- Tư Tề thay ta nhận kiếm. Quan Tư khấu đứng dậy đi.

Không ai bảo ai, lần lượt Đại tướng quân Phạm Vấn, Thái bảo Phạm Văn Xảo, Tư mã Lê Ngân, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú v.v đều tháo gươm dâng trả ngay tại lâu thuyền. Tư Tề chuyên chú vào việc nhận kiếm và xếp thành một hàng trên chiếc kệ vừa được hai chú lính bê từ trong khoang ra. Không ai nhận ra Lê Sát lúc bấy giờ lùi lại sau, liên tục liếc trộm Tư Tề, ánh mắt đầy dò xét.

Ba ngày sau, nhà thuyền chài họ Mạc bắt gặp một con rùa lớn, dài đến bốn, năm thước ta nổi lên giữa hồ. Tin truyền vào cung, Tư Tề chỉ tủm tỉm cười, lẳng lặng thưởng thêm cho viên gia tướng thân tín hai mươi nén bạc. Lê Sát cũng nghe chuyện vào lúc tan buổi chầu. Mặt thoáng chút hồ nghi nhưng lại ngay lập tức nói nói cười cười, rằng vận nước chắc đang hồi hưng vượng nên thần Kim Quy mới hiện thân phò hộ.

Buổi chầu kế tiếp, Khu mật Viện chính thức công bố sắc lệnh của nhà vua về việc cấm võ tướng mang vũ khí vào triều đồng thời thu hồi các lệnh phù điều động quân đội.

Đầu năm Kỷ Dậu (1429), Trần Nguyên Hãn trẫm mình ở bến Sơn Đông.

Tháng … năm … Phạm Văn Xảo bị bức tử trong nhà lao.

Tháng … năm … Nguyễn Chích bị bãi chức.

Tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Tư Tề bị tước bỏ ngôi vị Thái tử, giáng xuống làm Quận vương.

Cuối tháng đó, Đại tư đồ Lê Sát nhận di chiếu, phò Thái tử Nguyên Long 11 tuổi lên ngôi.

Mùa đông, tháng Một[2] năm Thuận Thiên thứ tư, Nguyễn Trãi chép chuyện Đức vua trả gươm cho thần Kim Quy vào sách Lam Sơn thực lục[3]. Cũng từ đó, câu chuyện trả gươm chính thức trở thành huyền thoại có thật.

Hàn Giang



[1] Tiếng gọi cha trong ngôn ngữ Việt cổ.
[2] Xưa, năm âm lịch được tính từ tháng giữa mùa đông; bắt đầu từ Một, Chạp, Giêng, Hai … cho đến tháng Mười là tháng cuối năm.
[3] Theo dịch giả Bảo Thần tại bản dịch Lam Sơn thực lục do NXB Tân Việt ấn hành năm 1956 (in lần thứ ba) thì câu chuyện trả gươm được thêm vào từ lần biên soạn, chỉnh lý năm Vĩnh Trị thứ nhất dưới thời vua Lê Hy tông.