Wednesday, June 11, 2014

"Cuộn gai" của V. Nabokov


Tiếp theo bài “Nàng Lolita trongchiếc quần dài”, tôi xin bàn thêm về chương một của tiểu thuyết Lolita. Trên trang trực tuyến cá nhân (blog), Thiên Lương có viết đôi dòng về “tư duy hình ảnh” của V. Nabokov và anh kết luận: “Và nếu ai không có khả năng "think in images", thiết nghĩ không nên đọc Lolita, chứ chưa nói đến chuyện đi dịch nó!” Tôi rất hâm mộ lối tư duy này. Vì vậy, khi đọc tác phẩm Lolita tôi hết sức cố gắng tư duy bằng hình ảnh để cuộc thưởng thức thêm phần trọn vẹn.

Humbert và Lolita
(ảnh chụp từ phim)
Tuy nhiên, đọc đến đoạn cuối Chương một, tức là mới được một trang, tôi vấp phải vấn đề về tư duy hình ảnh. (Nói văn vẻ thế thôi, tư duy hình ảnh chẳng qua là tưởng tượng.)

trích Bản dịch của Thiên Lương:
Thưa quí bà và quí ông trong bồi thẩm đoàn, tang vật số một là cái mà những thiên thần thượng đẳng có đôi cánh tuyệt trần, những thiên thần hồn nhiên, không thấu đáo sự tình, đã ghen tị. Xin hãy nhìn cuộn gai rối ren này.

trích Bản dịch của Dương Tường:
Thưa quí ông quí bà bồi thẩm, tang vật số một là cái mà những thiên thần thượng đẳng, những thiên thần ngây ngô, chất phác với đôi cánh cao quí, thèm muốn. Xin hãy nhìn mớ gai chằng chịt này.

Quý vị hãy cùng tôi tưởng tượng từ đầu đoạn văn: Nhân vật nam chính đang đứng trước tòa, khai với bồi thẩm đoàn rằng “tang vật số một là …” đồng thời rút từ trong túi ra một cuộn gai/mớ gai, giơ lên hoặc ném oạch ra bàn, rồi bảo bồi thẩm đoàn hãy nhìn vào cuộn gai/mớ gai đó (một cách mỉa mai). Chưa nói đến văn cảnh hay ngữ nghĩa, chỉ riêng việc bỗng dưng bị cáo (tôi nhấn mạnh) kiếm đâu được một mớ gai rồi đem vào phòng xử án đã là việc vô cùng kỳ lạ! Nếu nó xảy ra thật, sự việc này ắt sẽ trở thành điển tích đắt giá của ngành tư pháp Hoa Kỳ.

Vậy, thực ra cái cuộn/mớ gai đó của Dương Tường và Thiên Lương là cái gì? Mời quý vị xem bản tiếng Anh:

Ladies and gentlemen of the jury, exhibit number one is what the seraphs, the misinformed, simple, noble-winged seraphs, envied. Look at this tangle of thorns.

Thật ra, cả hai dịch giả nói trên đều bị vướng hai điểm. Thứ nhất là bị ám ảnh bởi nghĩa “tang vật” của chữ exhibit. Vì nó là tang vật nên nó phải có hình thù, phải sờ mó được vậy nên hai ông mới buộc phải cho cái kia thành mớ/cuộn gai. Trong khi đó exhibit từ điển Google trực tuyến giải thích là a document or other object produced in a court as evidence. Còn Cambridge Advanced Learner’s Dictionary, Third Edition thì ngắn gọn a thing used as evidence. Theo đó nên chăng dịch từ exibit thành tang tích thì vừa đảm bảo sát nghĩa, vừa không bị chính nó ràng buộc vào nghĩa sự vật cụ thể.

Thứ hai là cả hai dịch giả đều dịch câu cuối theo nghĩa đen dù đã tham khảo bản tiếng Pháp và bản tiếng Nga. Vì sao như vậy? Vì người châu Âu đều thuộc nhóm ngôn ngữ Ấn – Âu nên tư duy ngôn ngữ khá tương đồng. Hệ quả là các cụm từ “tangle of thorns”(t. Anh); “entrelacs d’épines” (t. Pháp); “maraña de espinas”(t. Tây Ban Nha) và “клубок терний” (t. Nga) đều có nghĩa đen là “một búi gai”, đồng thời (trừ tiếng Nga tôi không khảo cứu được) đều có nghĩa bóng là “một mớ những thứ rối tinh gây khó chịu.” Và cái mớ rối tinh gây khó chịu đó là gì? Là câu chuyện phức tạp giữa Humbert và Lolita được kể ra chứ không phải cuộn gai rối ren hay mớ gai chằng chịt nào cả.

Để dịch được cụm từ này một cách tốt nhất, thiết nghĩ cần chọn một cụm từ tiếng Việt có cả nghĩa đen, nghĩa bóng và hình ảnh tương đương. Đó chính là “mớ bòng bong”. Vậy câu trên sẽ là: “Thưa quý ông … Xin hãy thưởng thức mớ bòng bong này.”

Từ điển tham chiếu:

1. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, NXB Hồng Đức, 2012.
2. Từ điển Pháp – Việt của Tôn Thất Quế, NXB Cà Mau.
3. Từ điển Pháp – Việt của Trung tâm Biên soạn Dịch thuật sách Sài Gòn, NXB Đà Nẵng.
4. Từ điển Pháp – Pháp – Việt của NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
5. Le Petit Larousse Illustré, 2002.
6. Google Dictionary – Đây là một ứng dụng độc lập với Google Translate.
7. Cambridge Advance Learner’s Dictionary, Third Edition.

Trích các bản dịch để tham khảo:

trích Bản tiếng Pháp do E. H. Kahane chuyển ngữ từ bản tiếng Anh:
Voici, Mesdames et Messieurs les jurés, la première pièce à conviction : cela même que convoitaient les séraphins de Poe, les séraphins ignorants, aux ailes altières et au cœur simpliste. Voyez cet entrelacs d’épines.

trích Bản tiếng Nga (trích để ai biết tiếng Nga – ngôn ngữ mẹ đẻ của tác giả, ngoại ngữ số 2 của dịch giả Thiên Lương – đọc. Tôi không biết tiếng Nga nên sẽ không phân tích.) do chính tác giả dịch:
Уважаемые присяжные женского и мужеского пола! Экспонат Номер Первый представляет собой то, чему так завидовали Эдгаровы серафимы — худо-осведомлѐнные, простодушные, благороднокрылые серафимы … Полюбуйтесь-ка на этот клубок терний.

trích Bản tiếng Tây Ban Nha do Enrique Tejedor chuyển ngữ từ bản tiếng Anh:
Señoras y señores del jurado, la prueba número uno es lo que envidiaron los serafines de Poe, los errados, simples serafines de nobles alas. Mirad esta maraña de espinas.

Phạm Bằng Tiến

6/5/2014


Tuesday, June 10, 2014

Nàng Lolita trong chiếc quần dài


Cảnh trong phim Lolita
Bản quyền @ Pathé Frères
Vì không có khả năng tham khảo bản dịch tiếng Pháp như Dương Tường hay tiếng Nga như Thiên Lương, lời bàn của tôi về bản dịch của dịch giả Dương Tường và bản dịch của dịch giả Thiên Lương hoàn toàn dựa trên bản tiếng Anh của tác phẩm Lolita do Vladimir Nabokov sáng tác.

Trong phạm vi bài này, tôi chỉ muốn bàn sâu về một đoạn gồm 4 câu. Nguyên tác như sau: “She was Lo, plain Lo, in the morning, standing four feet ten in one sock. She was Lola in slacks. She was Dolly at school. She was Dolores on the dotted line. But in my arms she was always Lolita.”

Thứ nhất, về chữ "plain": Nabokov viết "..., plain Lo, ..." Ai cũng dễ dàng nhận ra "plain" là tính từ bổ nghĩa cho "Lo" - tên người. Tuy nhiên, "plain" được dùng để mô tả điều gì? Cụ Dương Tường hiểu rằng "plain" dùng mô tả đặc tính của danh từ riêng Lo. Vì vậy, cụ hạ bút là "..., ngắn gọn là Lo thôi, ...", ý rằng nàng được gọi ngắn gọn là Lo. Đến lượt mình, Thiên Lương dịch là "..., Lo đơn sơ,..." Mặc dù rất nỗ lực, (và vẫn tự hào khá tiếng Việt) tôi không thể hiểu nổi "đơn sơ" - với vai trò tính từ - mô tả điều gì. Tên Lo [nghe rất] đơn sơ chăng? Ắt không phải. Cô bé Lo đơn sơ? Ồ, không. Căn nhà đơn sơ, bộ bàn ghế đơn sơ thì có nhưng một con người đơn sơ thì chắc chắn không! Ví dụ:
“Nhà lá đơn sơ
Tấm lòng rộng mở
Nồi cơm nấu dở
Bát nước chè xanh”
Trích Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông.

Vậy, "plain" là gì? Thưa, "plain" có nhiều nghĩa, bao gồm cả "đơn giản" nhưng nghĩa hợp với văn cảnh nhất phải bao gồm cả hai: “đơn giản” và "không được trang trí/trang điểm, sửa soạn, trau chuốt". Ý rằng, nàng Lolita bé bỏng của chúng ta sáng ngủ dậy ở nhà, váy ngủ xuề xòa, chân mang tất ngủ[1] chiếc còn chiếc mất, son phấn chưa tô, trang sức (nếu có) chưa đeo, mặt vẫn còn nét bình yên khi ngủ. Và ý rằng, tên gọi ở nhà của nàng rất đơn giản. Chỉ một từ này thôi đã cho thấy khả năng dùng từ của Nabokov cực kỳ biến hóa và tinh tế. Đáng tiếc, Dương Tường chỉ lẩy ra được một ý còn Thiên Lương thì không rõ lấy ý nào.

Thứ hai, về chữ “slacks”: Vẫn đoạn trích dẫn trên, tôi cho rằng chúng ta rất dễ dàng nhận ra chủ đích của tác giả là giới thiệu các tên gọi khác nhau của nhân vật nữ chính để rồi nhấn mạnh, kèm theo chút đắc chí, cái biệt danh tha thiết, âu yếm và nồng ấm của một người yêu dành cho một người yêu mà ông đã sáng tạo nên.

Học ngoại ngữ là học một nền văn hóa. Vì vậy, những bạn học các ngôn ngữ thuộc nhóm latin, anglo-saxon hay slav sẽ dễ dàng nhận ra, hay nhớ lại rằng, một người châu Âu nói chung hay một người Anh nói riêng thường có nhiều tên gọi bắt nguồn từ tên chính thức. Ví như Richard, Dick, Dickie, Rich, Richie, Rick, Ricky hoặc Svetlana (Светлана) cho ra các tên phái sinh Sveta (Света), Ceca (Цеца), Lana (Лана). Tương tự, nhân vật nữ của Nabokov có các tên: Dolores, Lola, Lo, Dolly và Lolita. Dùng tên nào trong trường hợp nào đều phải theo quy chuẩn. Vậy, quy chuẩn đó ra làm sao? Nabokov cho chúng ta biết rất rõ.
a - Sáng dậy, khi ở nhà, nàng được gia đình gọi một cách xuề xòa là Lo.
c - Khi đi học, bạn bè trong lớp gọi nàng thân mật là Dolly.
d - Trong văn bản chính thức (có dòng kẻ cơ mà) nàng được gọi bằng tên khai sinh là Dolores - hết sức nghiêm túc.
e - Trong vòng tay người tình - vô cùng âu yếm - nàng được cưng nựng là Lolita.

Trường hợp sót lại (b), ơn Chúa, cụ Dương Tường cẩn trọng diễn giải: “Mặc quần dài trong nhà, em là Lola.” Ô hay, vậy khi mặc quần soóc, hoặc mặc váy, hoặc mini juýp, hoặc áo dài (rất có thể không quần) thì gọi nàng là gì??? Hoặc giả khi nàng tắm, tức là chả mặc gì cả thì phải gọi Francisco Goya về đặt tên cho nàng hay sao?

Dịch giả Thiên Lương phóng bút: “Nàng là Lola mặc quần dài.” Ái chà chà, đoàng một phát, nàng Lola của chúng ta có thêm một biệt danh là “Lola mặc quần dài”. Nghĩa rằng “mặc quần dài” là đặc tính cơ bản, đặc tính nhận diện của Lolita. Về mặt kết cấu ngôn ngữ, nó hệt như kiểu “Anh Tú béo”, “Hà Bò tùng xẻo” hay “William the Conqueror”. Nếu dịch ngược về tiếng Anh, câu này của Thiên Lương dứt khoát sẽ thành: “She was Lola the wearer of the slacks”.

Chick slacks of 70s style
Bản quyền @ http://www.vintag.es/
“Slacks” là một từ lạ, ít nhất với người dùng tiếng Anh như một ngoại ngữ (tức là như tôi). Tuy nhiên, slacks không phải là từ đa nghĩa. Từ điển Google trực tuyến giải thích slacks là casual trousers, tức là quần dài [mặc] thông dụng, không phải đồng phục, không phải quần ngủ và càng không phải quần tắm. Dĩ nhiên slacks cũng không phải chỉ để mặc trong nhà như cụ Dương Tường nhầm lẫn. Kết hợp với các trường hợp a, c, d, e mà Nabokov đã miêu tả, chúng ta có thể suy luận một cách logic rằng “Lola” là tên gọi của nàng trong các trường hợp xã giao thông thường, khi nàng mặc bộ thường phục, có thể là váy, có thể là quần dài và áo. “Slacks” lúc này hoàn toàn mang tính biểu tượng và “in slacks” rõ ràng đóng vai trò trạng ngữ chỉ thời điểm, tương ứng với “in the morning, at school, on the dotted line” và “in my arms”. Như vậy, chúng ta có thể kết luận:

a - Sáng dậy, hay rộng hơn là khi ở nhà, nàng được gia đình gọi một cách xuề xòa là Lo.
b - Khi mặc thường phục, nàng được gọi là Lola.
c - Khi đi học, bạn bè trong lớp gọi nàng thân mật là Dolly.
d - Trong văn bản chính thức nàng được gọi bằng tên khai sinh là Dolores.
e - Trong vòng tay người tình - vô cùng âu yếm - nàng được cưng nựng là Lolita.

Thứ ba, về chữ “standing”:
Nabokov: “…, standing four feet ten ....,"
Dương Tường: “…, đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu, …”
Thiên Lương: “…, đứng cao bốn foot mười inch, …”

“Standing” mà dịch là “đứng/đứng thẳng” thì chả sai vào đâu được. Nhưng. Có bao giờ bạn dùng tiếng Việt để miêu tả chiều cao một con người bằng chữ “đứng” hay “đứng thẳng” chưa? Tuy hoàn toàn cảm tính, tôi dám khẳng định rằng khi miêu tả chiều cao bằng chữ “đứng” ắt là bạn đang còn muốn đề cập đến chiều cao khi “ngồi” nữa. Trường hợp này được cô đọng trong thành ngữ tiếng Việt “ngồi cao hơn đứng” thường dùng để mô tả loài chó – loài vật vô cùng thông minh, trung thành và giàu đạm.

Dĩ nhiên, bản dịch của các dịch giả trên không sai, chỉ là không phải tiếng Việt. Thế thôi. Thế là đủ để buồn cho tiếng Việt rồi. Đúng không?!

Bản dịch của Dương Tường: Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi, đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu [3], chân đi độc một chiếc tất. Mặc quần dài trong nhà, em là Lola. Ở trường học, em là Dolly [4]. Trên dòng kẻ chấm, [5] em là Dolores. Nhưng trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita.

Bản dịch của Thiên Lương: Nàng là Lo, Lo đơn sơ, vào buổi sáng, đứng cao bốn foot mười inch, đi một chiếc tất. Nàng là Lola mặc quần dài. Nàng là Dolly ở trường học. Nàng là Dolores trên dòng điền tên. Nhưng trong vòng tay tôi, nàng lúc nào cũng là Lolita.

Phạm Bằng Tiến



[1] Tất ngủ rất phổ biến ở các nước ôn đới, hàn đới. Thường bán theo lố. Không bó chặt như tất thể thao hoặc tất đi thường ngày vì vậy khá dễ tuột khi ngủ.