Friday, November 7, 2014

Bàn lại vấn đề tác giả “Bình Ngô đại cáo" và “Quân trung từ mệnh tập”

 

Bài liên quan:
Cho đến nay, có lẽ chẳng còn mấy ai không nói và viết rằng: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập đều là những tác phẩm của Nguyễn Trãi. Sự thực, vấn đề tác giả ở đây không thể quan niệm đơn giản như các tác phẩm văn chương khác.
Theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn:“Lê Lợi lên ngôi vua tại điện Kính Thiên...đặt tên nước là Đại Việt, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ, ban lời cáo rằng...”[1]
Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua đã bình được giặc Ngô, bố cáo khắp thiên hạ, lời cáo như sau...”[2]
Như vậy, trong chính văn của các bản chính sử nói trên đều không ghi tên ai là tác giả đích thực bài đại cáo. Riêng sách Đại Việt sử ký toàn thư (NXB Khoa học xã hội-1972) dưới bản dịch bài cáo có chua dòng chữ: (Bài Đại cáo này là do văn thần Nguyễn Trãi soạn). Lời phụ chú này tất nhiên không phải là chính văn, thì, một là sự việc không được chính thức ghi nhận, hai là do người nào đó thêm vào sau khi văn bản chính hoàn thành. Bản thân Nguyễn Trãi chỉ được gọi là “văn thần”, không có chức vụ, tước vị, không phải văn chép sử. Ở đây, chúng ta chú ý chữ “soạn” với chữ “tác”, chữ “tác” với chữ “thuật”. Nếu bài cáo là của Nguyễn Trãi, do Nguyễn Trãi tự làm thì phải dùng thữ “tác” (sáng tác). Chữ “soạn” thường dùng cho loại văn từ hàn, tức là loại văn bản mang tính quốc gia, do Viện Hàn lâm soạn thảo theo lệnh bề trên. Bài Đại cáo bình Ngô trước hết là một văn kiện chính trị, lịch sử, có lẽ vì đậm chất văn chương nên được người soạn sách giáo khoa đưa vào môn văn trường học, coi như một tác phẩm văn học, bởi thế Nguyễn Trãi soạn giả, nghiễm nhiên thành Nguyễn Trãi tác giả! Nói rõ hơn về phương diện chính trị-lịch sử, Đại cáo là lời của Hoàng đế Lê Lợi bố cáo với thiên hạ. Nhà vua chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước thiên hạ về mỗi câu, mỗi chữ trong bài cáo. Nguyễn Trãi giỏi thơ văn, nhưng ông không thảo ra bài cáo với tư cách tác giả, mọi thứ giấy tờ khi được nhà vua phê duyệt thì văn bản ấy thuộc về triều đình, của triều đình, người soạn thảo không còn phải chịu trách nhiệm gì cả. Với Nguyễn Trãi, lúc ấy chức vụ của ông là thừa chỉ. Chữ “thừa chỉ” nói rõ nhiệm vụ của ông là vâng lệnh vua (thừa) soạn thảo giấy tờ (chỉ). Đối với bài Cáo bình Ngô vô cùng quan trọng này, Nguyễn Trãi soạn xong dâng lên, (thực tế có thể đã được sửa chữa, bổ sung nhiều lần theo ý Lê Lợi, trước khi bố cáo-HTC) được Lê Lợi châu phê là thở phào nhẹ nhõm như trút xong gánh nặng, coi như xong phận sự, hết trách nhiệm  Nếu Nguyễn Trãi dám nhận mình là tác giả, sau khi tác phẩm đã tuyên cáo rồi, bị phát hiện hay phê phán có chỗ sai, chữ nào lỗi thì không khỏi mắc tội với triều đình. Cho nên, công việc ấy thuộc về nguyên tắc, soạn giả, không thể thành tác giả. Cho nên, sử sách không ghi chép Chiếu dời đô do ai viết, mà chỉ biết là của Lý Công Uẩn. Đối với các sự kiện chính trị-lịch sử quan trọng khác cũng vậy.
Đi vào nội dung Bình Ngô đại cáo, vận dụng phương pháp nghiên cứu văn bản, chúng ta có thể tìm ra kết luận trong cách so sánh thú vị:
Lê Lợi nói:
“Việc dụng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay ta hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh trả lại đất nước ta, không còn trở lại xâm lấn, thì ta còn cần gì hơn nữa, hà tất phải giết hết để kết mối thù với nước lớn?”[3]
Bình Ngô đại cáo viết:
“Chúng đã sợ chết tham sống mà thực muốn cầu hòa
Ta lấy toàn dân làm cốt mà cho dân được nghỉ.
...Xã tắc do đó được yên
Non sông do đó đổi mới”

Lê Lợi nói:
“Xưa vì họ Hồ vô đạo, cho nên giặc Minh nhân đó mà cướp nước ta, sự tàn ngược tưởng các ngươi đều thấy cả”[4]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Vừa đây họ Hồ chính sự phiền hà
Để đến nỗi nhân tâm oán giận
Giặc Minh thừa dịp làm hại dân ta
...Thui dân đen trên lò bạo ngược...”

Lê Lợi nói:
“Các vị tướng giỏi thời xưa thường bỏ chỗ kiên cố mà đánh vào nơi nứt rạn, lánh chỗ  nhiều, mà đánh chỗ ít...”[5]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ
Lấy ít địch nhiều, hay dùng quân mai phục”

Lê Lợi nói:
“Binh pháp có câu: không cần đánh mà đối phương phải khuất phục. Đó là thượng sách của nhà binh vậy!”[6]

Bình Ngô đại cáo viết:
“Ta mưu đánh vào lòng, không chiến mà cũng thắng”
Như vậy khá rõ là nhiều ý kiến (lời dụ bảo) của Lê Lợi đã được Nguyễn Trãi (vâng mệnh) đưa vào bài đại cáo một cách khéo léo, tài tình. Cho đến những câu:“Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”, chúng ta tưởng đó là tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi thì cũng là sự khái quát hóa súc tích chủ trương và hành động của Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn. Ví dụ khi bình định châu Trà Long (1424) Lê Lợi ra lệnh các quân sĩ không ai được xâm phạm mảy may của dân, còn các quân địch đều được xá tội hết, không giết một tên nào. Hoặc khi Vương Thông sắp kéo quân về nước, các tướng sĩ và người nước ta vì căm giận nên khuyên vua giết cả. Lê Lợi bảo rằng: trả thù báo oán là thường tình của mọi người, mà không thích giết người là bản tâm của người nhân. Vả lại, người ta đã hàng rồi mà giết thì thì việc bất tường (tức không lành, không phải điều tốt-HTC) không gì bằng. Chi bằng tha mạng cho ức vạn người mà tuyệt mối chiến tranh cho sau này...[7]
Chính Nguyễn Trãi cũng đã từng ca ngợi tư tưởng lớn ấy của hoàng đế Lê Lợi trong các bài thơ, phú chữ Hán của ông như Hạ quy Lam Sơn I, Hạ quy Lam Sơn II, Chí Linh sơn phú...
-Nhân nghĩa duy trì quốc thế an
(Giữ nhân nghĩa để thế nước được yên)
-Đương thời chí dĩ tại thương sinh
(Bấy giờ cái chí vua đã thương dân)
- v.v...[8]
Trong bài đại cáo có một số chỗ chắc chắn nằm ngoài ý nghĩ và quan niệm của Nguyễn Trãi, như đối với họ Hồ, ông coi là bậc anh hùng, nhưng bắt buộc phải nói lời phê phán rất nặng. Chứng cớ là bài Quan hải, ông viết: “Anh hùng di hận kỷ thiên niên” (Anh hùng để hận mấy ngàn năm) nhưng ở Bình Ngô đại cáo, họ Hồ lại bị coi là kẻ có tội phản dân hại nước. Lại nữa, cách gọi Minh thiên tử Trung Hoa bằng những chữ: “Tuyên Đức chi giảo đồng” (thằng nhãi ranh Tuyên Đức) là của Thuận Thiên hoàng đế, không thể nào một chức quan Hàn lâm như thừa chỉ Nguyễn Trãi dám tự ý dùng bừa cho bài đại cáo nghiêm trang...
Trường hợp Quân trung từ mệnh tập cũng có tính chất tương tự.
Quân trung từ mệnh tập còn gọi là Quân trung từ lệnh tập. Ngay ở tên sách (do người sưu tầm đặt) mấy chữ “từ lệnh” hay “từ mệnh” đã chỉ rõ đây là những giấy tờ được soạn thảo theo mệnh lệnh của Bình Định vương Lê Lợi trong thời gian chống giặc Minh. Những thư từ gửi quan tướng nhà Minh, tất nhiên Lê Lợi phải cho nội dung trước để thừa chỉ Nguyễn Trãi nắm được ý đồ mà sai khiến ngòi bút. Đối với quan tướng nhà Minh thâm hiểm, xảo quyệt khó lường trước, có thể nào Lê Lợi lại “khoán trắng” cho Nguyễn Trãi? Hẳn là từng bức thư gửi đi, mỗi giấy tờ giao dịch, phải được soạn thảo dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Lê Lợi. Về phía Nguyễn Trãi, một bậc đại trí, lẽ nào không hiểu cái thế của mình thế nào? Ông là dòng dõi bên ngoại nhà Trần, hai cha con từng làm quan nhà Hồ, được Lê Lợi dùng nhưng chắc đâu đã được tin. Trong văn chương, ông luôn luôn nhắc đến “đạo làm con mấy đạo làm tôi” của mình như để khẳng định (hay thanh minh?) tấm lòng trung hiếu trước sau không hề thay đổi. Nhưng triều Lê có tin ông đâu!
Khi tiến quân vào bao vây thành Đông Đô, Lê Lợi ban lời dụ: “Có bậc văn nhân tài tử nào chưa ra làm quan mà có thể viết thư đưa vào thành Đông Đô, khuyên được tướng tá trong đó mở cửa thành ra hàng hoặc giảng hòa để về nước, sẽ đặc cách trọng dụng ngay”.
Như vậy, ở lĩnh vực “từ lệnh” trong quân, Lê Lợi không chỉ tín nhiệm riêng Nguyễn Trãi, và Nguyễn Trãi cũng không phải là người độc quyền soạn thảo mọi thư từ giao dịch với quân Minh. Mặt khác, Lê Lợi nhằm vào loại “văn nhân tài tử chưa ra làm quan” để kêu gọi, tức là trong đám “văn nhân tài tử” đã ra làm quan không có ai đương nổi việc vô cùng khó khăn ấy. Cho nên Quân trung từ mệnh (do Trần Khắc Kiệm sưu tầm, đời Lê Thánh tông bị thất lạc, gần 400 năm sau, đời Minh Mạng, Thiệu Trị, nhóm Dương Bá Cung mới hợp sức sưu tầm lại) chắc có cả những bài không do Nguyễn Trãi soạn thảo[9]. Hơn nữa, chúng ta không nên đề cao tuyệt đối những gì chỉ có giá trị tương đối. Bấy giờ giặc Minh mưu mô rất xảo quyệt, thái độ rất ngoan cố. Nếu chúng không bị dồn đến chân tường thì thư gọi hàng hay giảng hòa phỏng có tác dụng gì? Mấy lần Vương Thông chẳng nhận giảng hòa rồi lại trở mặt, đó sao? Thuyết phục kẻ địch để đỡ tốn xương máu cũng là phép dụng binh, nhưng quyết định chủ yếu vẫn ở lưỡi gươm ngoài chiến trường, đâu phải văn bản do ngòi bút nơi màn trướng. Nhận định rằng: “Chỉ dùng lời lẽ viết trong thư, Ức Trai tiên sinh đã khuất phục được bọn chúng, bắt buộc vua quan nhà Minh phải giảng hòa với ta”[10] thực là hết sức sai lầm!
Có một thời chúng ta đề cao vai trò lãnh tụ của Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa Lam Sơn mà quên mất lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn là Lê Lợi chứ không phải ai khác. Đầu năm 1428, triều đình Lê định hạng các công thần, gồm 221 người, gồm ba bậc, trong đó không có Nguyễn Trãi. Sau, triều đình mới “lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm quan phục hầu, tư đồ Trần Hãn làm tả tướng quốc, khu mật sứ Phạm Văn Xảo làm thái bảo, đều cho quốc tính” (Đại Việt sử ký toàn thư). Sự thực, quan phục hầu hay tả tướng quốc hay thái bảo đều là hư hàm. Vì thế Trần Hãn, Phạm Văn Xảo sớm bộc lộ thái độ bất mãn, tiêu cực để chuốc lấy tại vạ. Chỉ có Nguyễn Trãi vẫn ôm ấp tấm lòng trung để hơn mười năm sau cũng phải rơi đầu dưới tay bọn đao phủ.
Chức thừa chỉ học sĩ của Nguyễn Trãi là thực vị, vì ông là người làm giấy tờ giỏi. Khi Lê Thánh tông minh oan cho Nguyễn Trãi, cho biết Nguyễn Trãi là một mưu sĩ nơi màn trướng hồi kháng chiến chống quân Minh (không nên lầm mưu sĩ với quân sư). Nhưng nhận định toàn bộ cuộc đời Nguyễn Trãi, Lê Thánh tông ví ông với sao Khuê là khe tài văn chương và tấm lòng trung của Ức Trai. Lê Thánh tông hoàn toàn đúng khi khái quát Nguyễn Trãi như vậy. Đó là cốt lõi làm nên nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi.
Nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi phải có vị trí xứng đáng trong sách giáo khoa. Nhưng Bình Ngô đại cáo và Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi không thể ký tên với tư các tác giả. Cũng không phải cá nhân Lê Lợi, mà là Thuận Thiên hoàng đế, lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn, vị vua “Đại thiên hành hóa” (lời mở đầu bài cáo) mới xứng danh với bài đại cáo. Hoàng đế Lê Lợi đứng tên vào bài đại cáo, một sự kiện lớn lao trong lịch sử, làm vinh quang cho đất nước, cũng làm vẻ vang cho Nguyễn Trãi thừa chỉ. Chắc anh hồn Nguyễn Trãi dưới suối vàng sẽ mãn nguyện khi chúng ta hiểu ông, giúp ông giữ đúng nghĩa vua tôi, đạo thần tử mà sinh thời ông đã coi như một lý tưởng cao quý trong ứng xử (Có lẽ nên ghi: Bài Bình Ngô đại cáo của Thuận Thiên Hoàng đế (Lê Lợi) với chú thích: Nguyễn Trãi với chức trách thừa chỉ vâng soạn theo ý của vua Lê Lợi là đúng đắn nhất).
Đối với Quân trung từ mệnh tập, phải thận trọng và tế nhị hơn. Trong khi chưa xác minh được phần văn bản, có thể tạm coi như thừa chỉ Nguyễn Trãi thảo, nhưng không nên nhắm mắt đề cao. Chỉ có chủ thể của những bức thư ấy, không ai khác ngoài Bình Định vương Lê Lợi: “Bảo mày giặc dữ Phương Chính!” Nếu Lê Lợi không bảo như thế, đời nào Nguyễn Trãi dám viết như thế? Đó chỉ là một ví dụ nhỏ trong trăm ngàn ví dụ. Bởi vậy, chúng ta không thể coi Nguyễn Trãi là “tác giả” Quân trung từ mệnh tập, theo đúng nghĩa chữ tác giả, một chủ thể sáng tạo.[11]
Theo Hoàng Tuấn Phổ
Tuấn Công thư phòng blog
Bài liên quan:

[1] Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[2] Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[3] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[4] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[5] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[6] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[7] Theo Đại Việt sử ký toàn thư
[8] Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi tập
[9] Trường hợp thơ chữ Hán trong Ức Trai di tập cũng vậy, có thể không ít bài không phải của Nguyễn Trãi.
[10] Tựa Ức Trai di tập của Nguyễn Năng Tĩnh (bản dịch của Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm)
[11] Bài viết này đã công bố trên Báo Văn hóa-thông tin Thanh Hóa số ra ngày 26/6/1999 và in lại trong “Trong mắt tôi”-NXB Văn hóa dân tộc-2000. *Nhân đọc bài báo nêu vấn đề “Ai là tác giả “Quân trung từ mệnh” và “Bình Ngô đại cáo” của Cao Sơn Hải (Báo Văn hóa-thông tin 28-4-1999). Tuấn Công thư phòng đăng lại để lưu tư liệu và chia sẻ với những người chưa đọc.


Wednesday, June 11, 2014

Thơ Lê Lợi, không phải thơ Nguyễn Trãi


(Trao đổi với ông Trần Đắc Thọ)
Chúng ta đều biết bài thơ khắc trên bia đá Hào Tráng (sông Đà) là của vua Lê Lợi, nhưng mới đây, theo phát hiện của Trần Đắc Thọ, lại là của thi hào Nguyễn Trãi. Ông Thọ căn cứ vào câu “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” đã có trong bài thơ Quá hải  của Nguyễn Trãi, lại còn thấy trong bài thơ Hào tráng của Lê Lợi. 
Bia đá Hào tráng
Ông Trần Đắc Thọ viết: “Đành rằng trong cuộc sống có “những tâm hồn lớn” gặp nhau, nhưng người ta gặp nhau trong ý nghĩa, tư tưởng mà không trong từng câu, từng chữ như thế này. Việc Nguyễn Trãi sử dụng (lại) một câu thơ cũ của mình là một câu chuyện bình thường. Nhưng Lê Lợi đường đường một đấng chí tôn lại làm một việc thiếu đường hoàng như vậy thì không ổn. Thư tịch cổ thường hay tôn vinh cá nhân các vị đế vương. Trong trường hợp này, thiết nghĩ cứ viết trung thực là Lê Lợi sai Nguyễn Trãi làm thơ khắc vào vách đá núi để kỷ niệm chiến thắng”. (Tạp chí Hán Nôm số (38) 1999. Tr.44)
Theo tôi, lập luận của ông Trần Đắc Thọ trong bài “Thơ Lê Lợi hay là thơ Nguyễn Trãi”  không có giá trị thuyết phục.
Hãy cứ giả thiết Lê Lợi sai Nguyễn  Trãi làm hộ thơ cho mình. Nhưng liệu Nguyễn Trãi có dám dùng lại thơ cũ của mình để ký tên bậc chí tôn vào đó? Mà lại là thơ khắc trên vách đá, khi bị phát hiện thì Nguyễn Trãi khó thoát khỏi tội tày đình này chăng?
Chỗ dựa duy nhất của ông Trần Đắc Thọ là bài thơ Quá hải của Nguyễn Trãi. Ông Thọ viết rằng: bài thơ này “các nhà nghiên cứu cho ông (Nguyễn Trãi) đã làm hồi ông theo cha là Nguyễn Phi Khanh sang Trung Quốc khi cha ông bị giặc Minh bắt đi (1407)”. Các nhà nghiên cứu nào tài đoán mò như thế? Quân Minh bắt giải về kinh đô Kim Lăng (Trung Quốc) hai vua Hồ và một cận thần quan trọng như Nguyễn Phi Khanh, họ đi đường thuỷ hay đường bộ? Tài liệu nào ghi chép họ vượt qua biển Đông hay chỉ có chuyện Nguyễn Trãi tiễn cha đến ải Nam Quan rồi phải trở về? Chúng ta đọc lại hai câu kết bài thơ “Quá hải” được ghi là của Nguyễn Trãi:
Biển chu tiễn ngã triều thiên khách
Trực giá kình nghê khóa hải đông.
(Con thuyền nhỏ đưa ta làm khách chầu thiên tử
Cưỡi cá kình cá nghê mà vượt biển đông).
Thế là thơ nói về người đi sứ rồi (triều thiên khách). Nguyễn Trãi chưa hề đi sứ, cũng không thể dễ dàng vượt biển Đông đến Trung Quốc. Ông phải cải trang làm đầy tớ theo tiễn người cha mang tội chống lại giặc Minh, dù đi đường biển cũng chẳng có được phong thái ung dung của tác giả bài thơ Quá hải.
Lại xem thơ Đường luật, câu “phá” không thể giống câu “luận”. Câu “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” ở vị trí câu “phá” của bài thơ Hào tráng thích hợp hơn ở vị trí câu “luận” của bài thơ Quá hải. Giả sử Nguyễn Trãi có làm hộ thơ cho Lê Lợi, thì sao một tài thơ như ông lại đem câu “luận” trong bài thơ của mình gán ghép vào làm câu “phá” cho bài thơ Hào tráng?  Nguyễn Trãi mà kém cỏi đến thế kia ư?
Đến đây, ông Trần Đắc Thọ và bạn đọc hẳn phải chất vấn tôi rằng: cho dù bài Quá hải khó tin của Nguyễn Trãi, thì vấn đề khó hiểu của câu thơ “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” vẫn còn đó! Tôi xin trả lời: Bài Hào tráng đã khắc ghi rõ ràng trên vách đá kèm ngày, tháng, năm cụ thể, còn bài Quá hải là thơ sưu tầm, không những tam sao thất bản mà lầm lẫn đầu Ngô mình Sở cũng là chuyện thường thấy. Khi bị hoạ tru di, thơ văn Nguyễn Trãi đều phải đem đốt hết, ai tàng trữ tất mắc tội với triều đình. Ba mươi năm sau, Lê Thánh Tông khai phục chức tước cho Nguyễn Trãi, sai người sưu tầm di cảo của ông thì không còn được mấy. Sau đó, chính tập di cảo này cũng bị mất! Gần 400 năm trôi qua, biết bao vật đổi sao dời, ông Dương Bá Cung mới tiến hành sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi! Trong bài tựa ở đầu bộ Ức Trai di tập, Dương Bá Cung viết: “Tôi thường đã có đi từ Nam ra Bắc, gặp người nào hạng sĩ phu tôi liền dò hỏi xem di cảo của Ức Trai  tiên sinh có còn sót lại ở đâu không? Tôi mong hoạ hoằn cũng có tìm được nhưng tiếc rằng sau khi binh lửa loạn ly, nhưng tác phẩm ấy không còn tụ tập được mấy!” (nhóm Trần Văn Giáp dịch).
Chúng ta khâm phục sự kiên tâm bền chí của Dương Bá Cung. Chúng ta cũng cảm ơn ông đã đem trả lại cho đời một tập di cảo vô giá. Nhưng chúng ta không vì thế mà không cẩn thận khi sử dụng tài liệu. Chính vì tinh thần khoa học, nhóm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Trãi gồm các vị túc nho: Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình (Viện văn học), trong số 105 bài đã lọc ra 17 bài xếp vào phần “tồn nghi”, nghĩa là những bài mà các ông nghi ngờ không phải thơ Nguyễn Trãi. Theo ý tôi, trong số những bài các cụ thận trọng xếp vào “tồn nghi”, có những bài đã đủ sở cứ để khẳng định không phải là thơ Nguyễn Trãi. Tôi xin lấy bài Lãnh  noãn tịch làm ví dụ. Bài này có hai câu kết:
Cao đường bất thất ôn lương hậu
Khước hận thần hôn định tĩnh thì!
(Cha mẹ không thiếu sự quạt nồng ấp lạnh
Chỉ ân hận những khi sớm thăm tối viếng mà thôi!)
(Nhóm Phan Võ dịch)
Theo tiểu sử Nguyễn Trãi, ông sinh năm 1380, bị mồ côi mẹ (bà Trần Thị Thái) khi chưa lên mười tuổi, nhưng tác giả bài thơ lại còn đủ cả cha mẹ và hai cụ sống phong lưu, đầy đủ!
Bài Quá hải tuy không bị nhóm dịch giả trên xếp vào loại “tồn nghi”, nhưng thực ra chúng ta đã đủ căn cứ để tin rằng nó không phải là thơ Nguyễn Trãi. Bên cạnh đó, cũng còn ít bài nữa, nếu chúng ta chưa có thể loại bỏ khỏi thơ chữ Hán Nguyễn Trãi một cách thẳng thừng thì cũng nên đưa chúng sang phần “tồn nghi”. Ví dụ:  Ký hữu (bài số 16), Ký cữu Dị Trai Trần Công (bài số 23), Loạn hậu cảm tác (bài số 26), v.v… Tôi nghĩ 17 bài “tồn nghi” các cụ dịch giả đã đưa ra là xác đáng, nhưng chưa đủ.
Tóm lại vấn đề văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Trãi không bình thường, đòi hỏi người nghiên cứu phải thận trọng với tinh thần phê phán khoa học.
Trở lại bài thơ Quá hải mà Trần Đắc Thọ đã dựa vào đó để đặt vấn đề “Thơ Lê Lợi hay thơ Nguyễn Trãi”  và sau đó khẳng định là thơ Nguyễn Trãi. Bây giờ chúng ta không tin được bài Quá hải là thơ Nguyễn Trãi thì không có lý gì ông lại là tác giả bài thơ Hào tráng khắc trên vách đá bên cạnh Thác Bờ. Quá hải chẳng những không thể là thơ Nguyễn Trãi mà bản thân nó về phương diện văn bản cũng có chỗ không thể chấp nhận được như đã trình bày ở trên. Nhưng tại sao câu thơ Lê Lợi lại thấy trong bài Quá hải? Vấn đề không có gì khó hiểu. Những câu thơ hay như: “Hào khí tảo không thiên chướng vụ, Tráng tâm di tận vạn trùng san” lại khắc ghi trên bia đá, bao giờ cũng được nhiều người biết đến và nhớ thuộc. Lâu dần (trải qua gần 400 năm chứ ít đâu!) người ta quên tác giả, quên cả xuất xứ, nên dễ đem gán ghép vào bài thơ khác rồi cung cấp cho người sưu tầm (Dương Bá Cung). Đến như thơ cụ Nguyễn Khuyến với cụ Tú Xương cùng sống ở thời kỳ cận đại vẫn bị lẫn lộn với nhau ở một số bài! Âu đó cũng là chuyện thường tình khi thơ đi vào cuộc sống!
Cuối bài báo của mình, ông Trần Đắc Thọ còn nhắc thêm 4 bài thơ Hạ tiệp của Nguyễn Trãi để chứng minh cho lập luận của mình. Tôi cho rằng nhắc đến thơ Hạ tiệp của Nguyễn Trãi tức là ông Trần Đắc Thọ đã tự bác bỏ mình rồi!
Chúng ta hãy đọc lại bài Hạ tiệp thứ nhất để thấy câu 5 và câu 6:
Sơn thú dĩ văn thu Ngụy Bác
Thần khuê hựu kiến khắc Yên Nhiên
(Nghe tin lính đồn thú trên núi thu hồi trấn Ngụy Bác
Lại trông thấy nhà vua cho khắc (công trạng) vào đá núi Yên Nhiên
(Nhóm Phan Võ dịch)
Thế là Nguyễn Trãi tự nói rõ mình không phải người trong cuộc mà chỉ được nghe, thấy những sự kiện lịch sử: chiến công và thơ của Lê Lợi đã khắc lên núi đá ngay sau chiến thắng. Trong lời “Tựa” khắc ở trên bài thơ, Lê Lợi nói rõ: “Ta đi đánh Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để bảo cho đời sau biết mưu kế giá ngự nhung địch; nhung địch ở xa mặt người dạ thú, nếu có bội bạn, phải tiêu diệt ngay, mà phương lược tiến đánh thì bắt đầu tiến quân từ hai trấn Thao Giang và Đà Giang là hơn cả” (Phạm Trọng Điềm dịch). Trong bài thơ của mình, ông Trần Đắc Thọ, tại sao không hề nhắc đến lời tựa này, hay là riêng lời tựa này ông công nhận của Lê Lợi chứ không phải của Nguyễn Trãi?
Nhân đây, tôi muốn lưu ý thêm là ở bài thơ Hào tráng cũng như bài thơ Hoài Lai khi đánh Đèo Cát Hãn lần thứ nhất ông Lê Lợi đều dùng chữ “ngã” đều xưng “ta” ở các lời tựa:
- Lãi ngã do tồn thiết thạch can
- Đề thi khắc nham thạch
- Trấn ngã Việt tây ngu
(Bia đá Hoài Lai)
Tại sao Lê Lợi không xưng trẫm hay dư mà chỉ xưng ngã? Vì nhà vua muốn tỏ ra gần gũi với dân Mường Lễ ít nhiều còn chưa dược giáo hoá. Đó cũng là một phong cách riêng của  Lê Lợi, một phong cách độc đáo, đậm chất “Lam Sơn thôn dã”. Đặc biệt câu “Lão ngã do tồn thiết thạch can” không thể là ngôn ngữ của bất cứ tác giả văn chương uẩn súc nào, như Nguyễn Trãi chẳng hạn, vì thiếu gì chữ mà phải đem chữ “lão ngã” dùng cho vua để rước lấy tai hoạ khó lường!
Chắc các bạn cũng như tôi, chúng ta không hề có ý “tôn vinh” vua Lê Lợi, anh hùng dân tộc là nhà thơ. Và bản thân Lê Lợi cũng không có ý khoe văn chương chữ nghĩa. Nhưng đó là sự thật, Lê Lợi có để lại hai bài thơ, không chép vào thư tịch, mà khắc trên vách núi đá với mục đích chính trị và quân sự cụ thể. Dẫu thế nào thì sự thật ấy vẫn là sự thật như núi sông ấy, muôn thuở không thể xoá đi trong lòng người dân nước Việt.
Hoàng Tuấn Phổ

(Bài đã công bố trên Báo Văn hoá Thông tin Thanh Hóa, 26-8-1999)

Wednesday, June 4, 2014

Về bạt văn của dịch giả Mạc Bảo Thần


Dưới đây là vài suy nghĩ của tôi sau khi đọc tác phẩm Lam-sơn Thực-lục do cụ Mạc Bảo Thần dịch, NXB Tân Việt ấn hành năm 1944.

Việc chú giải và viết lời bạt của dịch giả cho thấy cụ đã nghiên cứu rất kỹ các văn bản trong sách này và các văn bản liên quan. Tóm lược, cụ Mạc Bảo Thần có ba nhận định:
1. Các đoạn in khác kiểu trong Lam-sơn Thực-lục là do người đời sau thêm vào.
2. Tác phẩm Lam-sơn Thực-lục và Văn bia Vĩnh-lăng là do Nguyễn Trãi soạn.
3. Vì đức khiêm tốn mà cụ Nguyễn Trãi không tự nhận mình là bậc “khai quốc nguyên huân”.

Về nhận định số 1, do người đọc không biết chữ Hán nên không dám có ý kiến gì. Đối với các nhận định sau, thiết tưởng có nhiều vấn đề cần bàn thêm. Để vấn đề đỡ loãng và để tránh việc tham chiếu quá rộng, đồng thời tôn trọng ý kiến của cụ Mạc Bảo Thần, người đọc chỉ khoanh vùng tài liệu tham chiếu trong nội dung cuốn sách này, gồm:
-       Tựa của Lam-sơn Thực-lục
-       Lam-sơn Thực-lục
-       Bình Ngô đại-cáo
-       Văn bia Vĩnh-lăng
-       Bạt – của cụ Bảo Thần

Về nhận định số 2, cụ Bảo Thần dùng hai động từ “soạn” và “viết” để khẳng định Nguyễn Trãi là tác giả của Lam-sơn Thực-lục (bao gồm Bình Ngô đại-cáo) và Văn bia Vĩnh-lăng. Ý tưởng này thiết nghĩ không có gì đáng bàn nếu chữ “soạn – 撰”không đa nghĩa.

Thiều-chửu Từ điển cho biết:

“撰” – Soạn là làm văn, làm sách, ghi chép các việc gọi là soạn. Như soạn thuật 撰述 thuật việc theo trước làm thành bài, thành sách, soạn trước 撰著 tự lấy ý mình làm thành văn, thành sách, v.v.

Như vậy, “soạn” vừa có nghĩa sáng tác, vừa có nghĩa chép lại sự việc. Nếu là sáng tác thì soạn giả là chủ nhân của cả câu chữ lẫn nội dung tư tưởng, nếu có, của tác phẩm. Nếu là chép lại sự việc thì soạn giả chỉ đơn thuần là người chấp bút, là chủ nhân của câu chữ và chỉ câu chữ mà thôi. Soạn, trong trường hợp thứ 2 cũng như H. C. Andersen kể lại chuyện cổ tích hay như J. Favreau soạn diễn văn cho ông B. Obama. Dĩ nhiên câu chữ hay cũng đáng là văn tài hiếm có.

Căn cứ nội dung của Lam-sơn Thực-lục và lời của Lê Thái-tổ: “Nên Trẫm nghĩ làm ra bộ sách này, thực là rất trông-mong cho con-cháu đời sau!” và Văn bia Vĩnh-lăng: “Vinh-lộc Đại-phu Nhập-nội Hành khiển, chủ việc ba quân, tôi là Nguyễn Trãi phụng Sắc, soạn”;

Căn cứ sự giống nhau trong đoạn đầu của Văn-bia và Lam-sơn Thực-lục như cụ Bảo Thần đã chỉ ra; người đọc có thể kết luận: Cả hai tác phẩm đều do Nguyễn Trãi phụng Sắc mà soạn nên. Lam-sơn Thực-lục là do phụng Sắc của Lê Thái-tổ, Văn bia Vĩnh-lăng là do phụng Sắc của Lê Thái-tông.

Vậy, “soạn” ở đây nên được hiểu là “ghi chép các việc”, nghĩa là nội dung tư tưởng, nếu có trong tác phẩm, đều không phải của Nguyễn Trãi.

Nên chăng từ nay, khi xuất bản các tác phẩm này cần ghi rõ “Nguyễn Trãi soạn thuật theo ý chỉ của Lê Thái-tổ/Lê Thái-tông” thay vì chỉ ghi đơn giản là “Nguyễn Trãi” để tránh sự hiểu nhầm?

Về nhận định số 3, cụ Bảo Thần khẳng định “Còn chỗ nói đến các văn-thần có công giúp Nhà-vua mở nước, thì chỉ kể có Lê Văn Linh và Bùi Quốc Hưng. Ấy là ông Trãi tự mình khiêm-tốn không dám tự-nhận là hạng khai-quốc nguyên-huân”. Thiết nghĩ, kết luận này cần được xem lại ở hai điểm: Một là Nguyễn Trãi có phải là “khai quốc công thần” không? – Việc này cần tra cứu nhiều tài liệu nên không xem xét trong khuôn khổ bài viết này. Hai là Nguyễn Trãi có nêu công lao của mình trong các văn bản nêu trên không?

Nếu Nguyễn Trãi có công lớn trong việc giúp Lê Thái-tổ mở nước thì công ấy ắt lớn hơn hẳn công lao “soạn” Bình Ngô đại-cáo và “giấy tờ đi lại ở trong quân”. Việc soạn Bình Ngô đại-cáo dù nhỏ hay lớn đối với Nguyễn Trãi thì cũng ắt phải kể vì đấy là việc lớn của Vua, là điểm mốc quan trọng trong lịch sử quốc gia. Tuy nhiên, tại sao Nguyễn Trãi không kể công lao gì lớn mà lại chỉ viết về mình đúng một câu: “Nhà-vua từ khi khởi nghĩa, đến lúc bình được giặc, lấy lại được nước, bao nhiêu giấy tờ đi lại ở trong quân, đều sai văn thần Nguyễn Trãi làm ra”. Chuyện này lại không bị bắt buộc phải kể như chuyện soạn Bình Ngô đại-cáo.

Vả chăng, theo suy nghĩ chủ quan của tôi, việc soạn thảo những văn bản này không phải là việc riêng giữa Nhà vua và Nguyễn Trãi. Cứ như lời tựa của lần chỉnh lý vào năm Vĩnh-trị thứ nhất (1676) dưới triều Lê Hy-tông, thì chỉ riêng việc “tìm-tòi, chắp-vá, sắp lại thành sách” đã cần đến 8 người. Huống chi, việc làm sách như lời Lê Thái-tổ nói “cốt là để trọng nghĩa đầu gốc. Và cũng để kể rõ sự-nghiệp gian-nan của Trẫm, truyền-bảo lại cho con-cháu vậy.” Với mục đích đó, e rằng, ít nhất khi soạn xong, sách phải được trao cho đình thần xem xét luận bàn trước khi Nhà vua phê chuẩn. Vậy, nhẽ nào toàn bộ đình thần (và cả Nhà vua) đều thấy việc không ghi công lao của Nguyễn Trãi (nếu thực sự có công lớn) là điều hợp lý?? Thật đáng suy nghĩ và tìm hiểu!

Hàn Giang

Lê Thánh Tông khen Nguyễn Trãi ở điểm nào


Mình vốn không biết chữ Hán nhưng phải cái tội giời đày nên hay cố công tìm hiểu. May nhờ có W.H. Gates tiên sinh, mình được dùng máy vi tính và internet. Lại nhờ có Đặng Thế Kiệt tiên sinh chế nên phần mềm Từ điển Hán Việt Thiều Chửu mà mình có công cụ để khám phá những điều lý thú trong cõi học.

Hôm nay, trong quá trình tìm hiểu xem Ức Trai tiên sinh tham gia Nghĩa quân Lam Sơn từ bao giờ, thấy Vua Lê Thái Tông chú trong một bài thơ như sau: “Thừa chỉ Quan Phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai đậu khoa bảng từ đời Hồ. Khi Thánh Tổ mới mở cơ nghiệp, theo về nơi Lỗi Giang, ....” Tò mò, mình tìm tiếp bản nguyên tác của bài thơ và sử dụng Thiều Chửu để đọc.

Thời phổ thông, mình được học “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” nghĩa là “Tấm lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê buổi sớm”. Với vốn từ Hán – Việt nghèo nàn, mình vẫn đinh ninh “Khuê” là sao Khuê, “tảo” là sớm (như kiểu “tảo hôn”). Dĩ nhiên mình chẳng lăn tăn gì cho đến hôm nay. Thiều Chửu từ điển cho biết:

奎:khuê

1: Sao khuê, một ngôi sao trong nhị thập bát tú. Nhà thiên văn ngày xưa cho sao khuê chủ về sự văn hoá, cho nên nói về văn vận hay dùng chữ khuê.

藻:tảo

1: Rong, rau bể, tên gọi tất cả các thứ cỏ mọc ở dưới nước.
2: Rong là một thứ cỏ mọc dưới nước có văn vẻ đẹp, cổ nhân dùng để trang sức mũ áo cho đẹp, cho nên cái gì dùng làm văn sức đều gọi là tảo. Như từ tảo 詞 藻 lời đẹp, cũng viết là 辭. Lấy lời tốt đẹp mà khen lao người gọi là tảo sức 藻 飾. Bình luận nhân vật gọi là phẩm tảo 品 藻 hay tảo giám 藻 鑑.

Căn cứ vào đó, "tảo" hoàn toàn không phải là sớm. “Khuê" trong câu phải được viết thường vì "khuê tảo” là từ ghép chỉ văn chương nói chung. Hơn nữa, chiếu theo luật Đường thi, thể thất ngôn bát cú, thì “khuê tảo” cũng phải là từ ghép mới đối được với “giáp binh = áo giáp và binh khí” ở câu sau. 

Đến đây thì mình cảm thấy hiểu câu này thật vô cùng khó khăn dù đã làm rõ “khuê tảo” là văn chương. Thử đặt trong mối tương quan với câu tiếp sau: “Vũ Mục hung trung liệt giáp binh”. Trong đó,
Ức Trai, hiệu của Nguyễn Trãi, đối với Vũ Mục, thụy của Lê Khôi;
“Tâm thượng = Trong trái tim” đối với “Hung trung = Trong tâm trí”;
“Khuê tảo” đối với “Giáp binh” như trên đã nói;
Riêng “Quang” đối với “Liệt” thì phải hiểu thế nào?

Vẫn Thiều Chửu từ điển cho biết:

列: liệt
1: Hàng lối, cái gì xếp một hàng thẳng gọi là hàng 行, xếp ngang gọi là liệt 列.

光: quang
1: Sáng, các nhà khoa học bây giờ nghiên cứu cái nguyên lý về bóng sáng, chất sáng gọi là quang học 光 學 .
2: Vẻ vang. Như quang lâm 光 臨 , quang giáng 光 降 người ta tới đến mình là vẻ vang cho mình.
3: Rực rỡ. Như quan quang thượng quốc 觀 光 上 國 xem cái văn minh của nước giỏi. Như đã đọa vào nơi tối tăm lại khôi phục lại rực rỡ, đã thua mất thành mất nước lại đánh lấy lại được gọi là quang phục 光 復 .
4: Bóng, vật gì mài giũa kỹ sáng bóng gọi là quang.
5: Hết nhẵn.

Vậy, “liệt” là tự động từ mang nghĩa “xếp”. “Quang” cũng là tự động từ (Cảm ơn anh Nguyễn Ngọc Khanh đã hỗ trợ ý này) mang nghĩa chiếu sáng, làm vẻ vang, chiếu rực rỡ.

Căn cứ các điểm trên, hai câu này có thể hiểu như sau:
Văn chương soi sáng trong lòng Nguyễn Trãi
Giáp binh xếp đầy trong bụng Lê Khôi

Kết luận: Câu “Vũ Mục hung trung liệt giáp binh” nhằm ca ngợi tài năng quân sự của Lê Khôi; câu “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” nhằm ca ngợi tài năng văn chương của Nguyễn Trãi. Ở đây tuyệt đối không đề cập đến nhân cách hay đạo đức của bất kỳ ai cả.

Nguyên tác

君明臣良
高帝英雄蓋世名,
文皇智勇撫盈成。
抑齋心上光奎藻,
武穆胸中列甲兵。
十鄭第兄聯貴顯,
二申父子佩恩榮。
孝孫洪德承丕緒,
八百姬周樂治平。

Âm Hán Việt

Quân minh thần lương
Cao Đế anh hùng cái thế danh,
Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành.
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo,
Vũ Mục[1] hung trung liệt giáp binh.
Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển,
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh.
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự,
Bát bách Cơ Chu lạc trị bình.

Hàn Giang

[1] Ghi chú của Lê Thánh Tông, tác giả: Tư mã Lê Khôi, thuỵ là Vũ Mục, cháu gọi Thái tổ Cao Hoàng đế bằng chú, thâm trầm hùng dũng, tài lược hơn người, đánh quân Minh tới đâu được đấy, trấn thủ thành Thuận Hoá, người Chiêm Thành khiếp sợ.

Nguyễn Trãi bị giam ở đâu


Đọc lại bài Thủ vĩ ngâm của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập, mình rất thắc mắc về chữ "Nam" trong câu đầu và câu cuối được viết hoa. Nguyên bài này Nguyễn tiên sinh viết bằng chữ Nôm, hậu thế chuyển thành chữ quốc ngữ.

首 尾 吟 / Thủ vĩ ngâm

谷 城 南 犼 蔑 間 / Góc thành Nam lều một gian
奴 搩 俧 少 琟 吿 / No nước uống thiếu cơm ăn
昆 隊 遁 揚 埃 眷 / Con đòi trốn dường ai quyến
堏 馭 檝 少 几 绖 / Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn
傉 瞸 狹 回 坤 且 琾 / Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
茹 涓 趣 庶 礙 挼 働 / Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn
朝 官 拯 沛 隱 拯 沛 / Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải
谷 城 南 伨 蔑 間 / Góc thành Nam lều một gian

Giả sử việc viết hoa chữ "Nam" là đúng thì nảy sinh chút nghi hoặc. Hầu hết sách vở bằng chữ quốc ngữ sau này đều cho rằng Nguyễn tiên sinh viết bài này khi bị giặc Minh giam ở thành Đông Quan (tên của thành Thăng Long lúc bấy giờ), cụ thể là bị giam lỏng ở góc phía nam thành.

Nếu "nam" là chỉ phương vị, thì sao lại viết hoa?? Theo ngữ pháp tiếng Việt, danh từ chỉ phương vị trong trường hợp này đương nhiên viết thường. Vậy, kết luận 1: nếu viết hoa thì “Nam” ắt hẳn là chữ chỉ địa danh.

Bên cạnh đó, toàn bộ bài thơ được kết cấu theo ngữ pháp tiếng Việt. Tính từ, bổ ngữ đều đứng sau danh từ. Ví dụ: “No nước uống” hoặc “Bà ngựa gầy” (Bà = Con, tiếng Việt cổ). Tại sao riêng câu đầu, câu cuối lại viết theo ngữ pháp tiếng Hán “Góc thành Nam”. Nếu ở góc nam của ngôi thành thì phải là “Góc nam thành” mới đúng. Nếu cụm từ này đã được viết đúng ngữ pháp tiếng Việt và chữ "Nam" viết hoa như kết luận 1 trên đây thì kết cấu của cụm này phải là “Góc / thành Nam”; trong đó “thành Nam” là cụm từ định danh một ngôi thành nào đó có tên đầy đủ hoặc tên tắt là “Nam”. Tạm gọi đây là kết luận 2.

Trong thời gian giặc Minh đô hộ, nước ta có hai ngôi thành lớn là Thăng Long tức Đông Đô hoặc Đông Quan và Tây Đô hay Tây Kinh. Cả hai ngôi thành này không có yếu tố “nam” trong tên. Xét trong suốt lịch sử Việt Nam, Thăng Long cũng chưa bao giờ mang tên có chứa yếu tố phương vị “Nam” trong tên.

Tên của Thăng Long qua các thời kỳ:
- Đại La: dưới thời Phùng Hưng, họ Khúc, Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn
- Thăng Long (昇龍): Triều Lý, Triều Trần, Hậu Lê
- Đông Đô: Trần Thiếu Đế
- Đông Quan: Thời kỳ thuộc Minh
- Đông Kinh: Lê Thái Tổ
- Thăng Long (昇隆): Gia Long
- Hà Nội: Từ Minh Mạng trở về sau

Căn cứ kết luận 2 và sự thật về tên của Thăng Long trong thời kỳ này, phải chăng, Nguyễn Trãi KHÔNG bị giam ở Đông Quan?! Thậm chí, ông KHÔNG bị giam ở Đại Việt?!

Lưu ý: Nguyễn Trãi bị giam ở đâu rất quan trọng vì điều này liên quan đến việc ông tham gia Nghĩa quân Lam Sơn vào lúc nào và đóng góp đến đâu.

Hàn Giang