Monday, May 4, 2020

Hái sơn tra trên "những bậc thang lên thiên đường"

Mù Cang Chải gây thương nhớ tha thiết cho du khách không chỉ vì ruộng bậc thang kỳ vĩ mà bởi còn có quả táo mèo - hay sơn tra. Tháng 9, tháng 10 hàng năm, hãy thử bước lên những bậc thang giữa ngàn mây để khám phá thêm bao điều kỳ thú quanh loại trái cây tưởng như bình dị này.
Sơn tra “cách bốn quả đồi/ Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng”

Người H’Mông nổi tiếng với việc sinh sống trên những ngọn đồi cao, xa xôi nhưng cây sơn tra còn mọc ở những nơi cách trở gấp bội. Thế mà, giống như cô gái trong bài thơ trên, dù có van chàng trai đừng yêu mình song người chân tình vẫn tới. Người H’Mông cũng tìm đến cây sơn tra với tấm lòng như vậy.

Những quả sơn tra giữa núi rừng Tây Bắc.
Tính từ thị trấn Mù Cang Chải, đi ô tô chưa tới 20km nhưng do đường đèo dốc, chúng tôi phải mất tới cả tiếng đồng hồ mới đến điểm tạm dừng chân. Từ đây, chỉ có những con chiến mã bằng sắt mới có thể đưa tôi đến với ngọn đồi sơn tra ở tít mù tắp đâu đó. Giàng A Sở - người đồng hành với tôi, phác một động tác tay chỉ lên trời, tôi bắt đầu cảm thấy vừa háo hức vừa nghi hoặc: “Liệu mình có thể tận tay hái thứ quả đó không?”
Quả sơn tra đem lại thu nhập cho nhiều người dân nơi đây.
Trên chiếc xe wave mới cóng, chúng tôi bắt đầu hành trình qua “tám vạn chín nghìn” khúc cua - cái cụm từ mà chúng tôi hay nói quá khi làm cái gì đó thật nhiều lần, nhưng ở Háng Gàng, có lẽ nó khá khớp với thực tế. Tôi tranh thủ trò chuyện với Giàng A Sở.

Nhà A Sở có 7 anh em, chia nhau 3 quả đồi sơn tra. Ông bà anh được coi là những người đầu tiên đến khai phá bản Háng Gàng, do đó, họ cũng sở hữu nhiều đồi sơn tra nhất. Theo lời anh Trần Trung Kiên (Trưởng phòng Văn hóa huyện Mù Cang Chải, Yên Bái), sơn tra ở bản này nổi tiếng là ngon nhất vùng.



Thu hoạch sơn tra.
“Vút! Vút…”, tay lái lụa của anh Sở đưa tôi qua những ngọn đồi, những con đường nhỏ bám vào một bên là núi, một bên là vực sâu một cách không do dự, bởi vì anh đã quen từng khúc cua, từng viên đá dọc lối đi. “Khục! Xoẹt xoẹt!” đó là khi chúng tôi gặp ổ gà trên một đoạn đường lầy lội, cứ vết bánh xe sau đi vào vết bánh xe trước, anh Sở vẫn vít ga, hai chân như hai mái chèo để cân bằng và rồi vụt qua đoạn khó. Anh vẫn vui miệng kể, có năm sạt lở, mấy gia đình phải cùng nhau thuê máy xúc lên tận đây, làm lại đường để đi hái quả đấy.

Chí tua di - Ngọt thơm và chua chát

Sau thêm 1 tiếng đồng hồ nữa trên con ngựa sắt, cuối cùng tôi cũng được tận mắt thấy ngọn đồi sơn tra. Quả sơn tra theo cách gọi của người H’Mông là “chí tua di”. Trang Thông tin điện tử Yên Bái cho biết, cây sơn tra phát triển tự nhiên trên những cánh rừng, chiều cao trung bình chừng 7 - 10m, thân gỗ, tán lá rộng. Trong Đông y, sơn tra là một vị thuốc quý.


Sơn tra được hái để bán.
Quý thế nào có lẽ phải có thời gian thẩm định, tôi chỉ biết rằng, mình đã phải lòng cánh rừng trước mặt mất rồi. Những cây sơn tra cao hơn tầm mắt một chút, cành lá xanh điểm xuyến màu đỏ của mùa thu, lúc lỉu những chùm quả vàng nhạt, đu đưa trong gió, nhập vào với đồi núi biêng biếc phía xa tạo thành bức tranh tuyệt tác.

Đi qua những cây sơn tra đầu tiên, tôi cảm thấy mình đang được ướp trong hương thơm ngọt, dịu mát đặc trưng của loại táo này. Toàn bộ thân thể, tâm trí tôi thấm đẫm hương vị sơn tra. Giàng A Sở trèo lên một cây mà anh nói khoảng 10 năm tuổi, vặt một quả trong tầm tay, cắn một miếng, rồi bảo: Đây là cây ăn này, thử đi! Cây nào mà chẳng để ăn, tôi nghĩ thế, nhưng vẫn háo hức cắn cái “rột”. Ồ, hóa ra sơn tra là thế! Đã ăn bao nhiêu trái ở phố, nhưng chưa bao giờ tôi thấy vị ngọt mát thanh tao đến thế, chân răng tứa ra sự thèm thuồng, chưa kịp nhai kỹ hơn thì miếng ngon đã rơi tọt xuống cổ, để lại cái bùi bùi trong khoang miệng. Hẳn là có một chút vị chát, nhưng nó thoảng qua và quyện vào với vị ngọt bùi khiến tôi không còn chú ý tới nó nữa.


Phơi khô sơn tra.
Lúc này tôi mới tỉnh táo trở lại để hỏi anh Sở về cái gọi là “táo ăn”. Người H’Mông sành về táo, họ quan sát và nếm thử, cây nào ngon thì để riêng, ăn sống hoặc làm nước ngọt uống, cây nào vị chát nhiều thì dành ngâm rượu. Táo ăn bao giờ cũng đắt gấp mấy lần táo ngâm. Năm được mùa, táo ăn bán khoảng 20-30 nghìn/kg, táo ngâm chỉ 5-6 nghìn/kg. Năm nay mất mùa, Giàng A Sở lại phấn khởi, vì đồi táo nhà anh không bị chung cái nạn ấy. 1kg táo ăn có giá lên đến 50-60 nghìn, táo ngâm khoảng 15-25 nghìn đồng.

Hái táo thì trèo lên cây mà vặt thôi, nhưng để đem ra thị trấn bán không phải đơn giản. Vẫn con đường ban nãy tôi đi, mỗi chiếc xe sẽ chở được 2-3 bì táo, mỗi bì 50-60kg tùy tay lái. Một ngày, như anh Sở có thể đi 3-4 chuyến, nếu suôn sẻ thì chỉ phải đổ xăng xe và thay dầu mỗi ngày một lần. Còn nếu không suôn sẻ?... Tôi chẳng dám nghĩ tới, nhưng Giàng A Câu, em anh Sở thì thật thà nói: “Đầy tay lái lâu năm vẫn ngã đấy, bị thương, bị chảy máu là bình thường mà!” Chính vì con đường xa xôi và khó khăn như thế, những năm được mùa, cái giá vài nghìn đồng cho 1kg táo không bõ để người ta bất chấp nguy hiểm để đi hái. Nhưng táo thì vẫn chín, vẫn miệt mài tỏa hương thơm khắp những ngọn đồi để rồi rụng đi trong lặng lẽ.



Những quả sơn tra trên đường "xuống núi".
Nghĩ đến đó, bỗng dưng tôi chạnh lòng nhớ lại buổi sáng hôm trước, trong phiên chợ ngay trung tâm thị trấn Mù Cang Chải, bao khách du lịch đã quay lưng bỏ đi, đã ngã giá triệt trong đắc ý. Rồi tôi thấy cũng hợp lý làm sao, khi hết vị ngọt, chí tua di cho ta nuốt thêm một chút chua chát.

Sơn tra có tác dụng tiêu thực chữa đầy bụng, ợ chua, cầm tiêu chảy, hạ huyết áp, cải thiện sức co bóp của tim. Hạt và ruột có nhiều tính năng giảm béo, hạ huyết áp, an thần cân bằng sinh lý và phòng chống tích cực các biến chứng do tăng huyết áp gây ra…Có nhiều cách chế biến, thưởng thức sơn tra như ngâm rượu, làm xi rô, mứt, ô mai, muối xổi…

Điểm chung trong các hướng dẫn chế biến là ngâm nước muối cho bớt chát, đa phần mọi người thích thế - như tôi trước kia. Nhưng bây giờ, tôi tha thiết muốn giữ lại dư vị không mấy dễ chịu đó, như một cách để nhắc mình nhớ về cả rừng chí tua di rơi rụng trong lãng quên lúc được mùa, nhớ về những đôi chân bám núi, những tay lái đã ngã trên đèo, để mang đến cho phố thị thêm một loại đặc sản kỳ thú.


P.Diễm
(Bài đã đăng trên báo Khoa học và Đời sống theo link dưới đây

Tuesday, November 8, 2016

Khao khát



Phía bên kia khao khát
Anh đến tự lòng em
Giống như là bóng đêm
Bước ra ngoài ánh sáng

Mấp máy môi thật nhẹ
Gọi tên anh ba lần
Gõ chân xuống nền gạch
Anh có đến hay không

Còn gì mơ màng hơn
Một bóng hình xa vắng
Có chi quặn thắt bằng
Ao ước không thành thực

Phía bên kia khao khát
Là trống trải lòng em
Giống như bóng mãi đêm
Ánh sáng không lối đến.

Băng Hồ. 8/2016

Monday, March 7, 2016

Bên hiên nhà


(Ảnh: Katie Andelman, lấy từ internet)

Bé rất thích
Kể chuyện chơi
Sáng hôm nay
Ngoài hiên vắng
Gọi gió đến
Kề sát bên
Bảo lặng im
Nghe thầm thĩ

Ngày nào đó
Tháng chưa xa
Năm chưa rõ
Nơi có gió
Đầy mây trời
Hoa rơi rơi
Suối róc rách
Quả bóng đẹp
Quả bóng xinh
Khẽ uốn mình
Lớn như thổi
To bằng trái
Tròn bằng mâm
Êm như nhung
Nhanh như sóc
Bóng hút mật
Từ mặt trời
Uống nước khơi
Căng bụng phệ
Càng vui vẻ
Chạy tung tăng
Lội suối ngàn
Leo đồi vắng
Nhảy trong nắng
Hát trong mưa
Ngày say sưa
Đêm vội vã
Không ngừng nghỉ
Bóng mãi lăn
Mỗi ngày thêm
Càng tròn ủng
Như cái thúng
Bằng mặt hồ
Biển dù to
Không bằng bóng
Mỗi con sóng
Lại dồn thêm
Làm bóng tròn
Phình lên mãi...

"Bằng gì vậy?
Gió tò mò
"Còn gì to
Hơn mặt biển?"

"Là Trái đất
Bé đáp lời
"Này gió ơi
Có đoán được?"

Gió khúc khích
"Chuyện thật hay
Đi khắp nơi
Chưa từng biết"

Chuyện đặc biệt
Riêng bé thôi
Thế gian này
Không đâu có

"Xin nghe nữa"
Gió nỉ non
Rồi gọi thêm
Bầy chim đến
Gọi cả nắng
Và lũ mây
Tới quanh đây
Nghe chuyện kể
Bé vui quá
Hát vang ca
Góc hiên nhà
Thành cổ tích.

Băng Hồ

Wednesday, February 24, 2016

Chủ trò



Ảnh: Internet
Búp bê cao lớn
Con cún mắt tròn
Thỏ bông tai trắng
Cua có bốn chân
Xe hơi chạy nhanh
Xe đạp hai bánh
Tàu kêu xình xịch
Đỗ trong sân ga…

Cả cửa cả nhà
Bạn bè bé đó
Làm sao cả lũ
Chơi cùng với nhau

Bé lắp tàu trước
Rồi đến xe sau

Búp bê, cún, thỏ
Trật tự xếp hàng
Chờ thủ lĩnh nhỏ
Lần lượt gọi tên

Riêng cua kềnh càng
Cho lên ghế trước
Càng cầm vô-lăng
Càng phanh khi gấp
Càng thì mở nhạc
Càng bật điều hòa…

Búp bê giống bé
Mới tập đi xe
Cho lái hai bánh
Đạp vèo khỏe re

Chó con thính mũi
Phân làm hoa tiêu
Tai thỏ dài nghêu
Để dành nghe ngóng

Đi chừng một đoạn
Đèn đỏ đèn xanh
Bỗng có còi tuýt
Phạt xe đi nhanh

"Chủ trò" hốt hoảng
Dừng cả đám ngay
Bắt phạt tất cả
Úp mặt mười giây!

Vì không biết đếm
Bé tha cả đoàn
Khi mới đến năm
Đã được đi tiếp

Tíu ta tíu tít
Xình xịch, xình xịch
Bí ba bí bô
Cọc cà cọc cạch
Đoàn xe chạy quanh
Cọc cà cọc cạch
Bí ba bí bô
Xình xịch xình xịch
Tíu tít tíu ta!

Băng Hồ

Tuesday, June 17, 2014

Cái đầu lâu mất tích


Bình Định vương ngồi buông thõng chân trên hòn đá nổi tự nhiên ở đầu thung Nai. Quanh ông, các tướng văn, võ đứng quây quần. Một anh lính hối hả đi tới chỗ Bình Định vương:
- Trình nhà Vương. Chúng con tìm mãi vẫn không thấy đầu thằng Phùng Quý ở đâu cả!
Bình Định vương khẽ nhếch mép cười:
- Tìm mãi vẫn không thấy! Hắn có phép thần thông hay các ngươi trông gà ra cuốc?
Trận Sách Khôi này, quân giặc điều tới mấy vạn binh mã do Tổng binh Giao Chỉ Trần Trí chỉ huy cùng các tướng khét tiếng như Mã Kỳ, Phùng Quý... vây chặt nghĩa quân Lam Sơn định quét gọn một mẻ lưới. Bình Định vương họp các tướng bàn: “Quân giặc bao vây bốn mặt... Đây chính là nơi binh pháp gọi là đất chết, đánh nhanh thì còn, chậm trễ thì mất”. Tướng sĩ đều quyết phá vòng vây giặc, và nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển bại thành thắng. Trần Trí, Mã Kỳ thua to, rút chạy về thành Đông Quan. Tin chém được đầu Tả tham tướng Phùng Quý càng làm nghĩa quân nức lòng. Ai cũng muốn coi mặt tên tướng độc ác này. Cho nên chuyện cái đầu Phùng Quý bỗng dưng biến mất, khiến mọi người xôn xao bàn tán.
Sau một lát yên lặng. Bình Định vương hỏi người lính đưa tin:
- Con có rõ mặt Phùng Quý không?
- Con không thể nào lầm được. Chính con là nô lệ của hắn, hắn đã đầy đọa con, thích chữ lên trán con...
Như để làm chứng cho lời mình, anh lính giật phăng tấm khăn bịt đầu, để lộ vầng trán in hằn những vết sẹo dọc ngang. Anh bịt lại khăn rồi sụp lạy:
- Đội ơn đức Vương, con đã hả mối hận thù riêng...con chỉ tiếc không được tự tay mình lấy đầu Phùng Quý!
Bình Định vương ra hiệu cho anh lính đứng dậy. Người hỏi:
- Ai chém rụng đầu Phùng Quý?
- Trình đức Vương, người có công cứu con thoát khỏi nanh vuốt Phùng Quý cũng chính là người chém rụng đầu hắn!
Anh lính liền thưa.
- Ai nhỉ?
- Trịnh Khả!
Làn sóng xôn xao trong đám đông nổi lên. Tướng sĩ vây quanh Bình Định vương reo mừng và cùng đưa mắt dớn dác, ngó tìm Trịnh Khả. Phải! Đúng là Trịnh Khả, viên tướng mới độ tuổi hai mươi đã múa giáo đâm Phùng Quý ngã ngựa rồi cắt lấy đầu...
- Trịnh Khả đâu rồi?
Trịnh Khả vượt ngục thành Tây Đô rồi đến Lam Sơn nương nhờ họ Lê từ lúc tuổi còn niên thiếu, được Bình Định vương thương yêu như con cháu trong nhà. Người vừa cất tiếng gọi thân thiết vừa nhìn bên phải, ngó bên trái xem Khả đứng náu mình ở đâu, song Bình Định vương và các tướng sĩ đều chẳng ai thấy Khả đâu! Trịnh Khả đã mất tích cùng với cái đầu của Phùng Quý!
- Phải đi tìm ngay Trịnh Khả!
Bình Định vương dứt lời, các tướng sĩ ào lên chia nhau đi khắp ngả...
Tại một góc rừng hẻo lánh, Trịnh Khả lúi húi dùng đại đao đào đất đắp thành một nấm mộ. Cái áo của người cha trao cho Trịnh Khả hôm từ biệt ra đi đã sáu bảy năm trời trôi qua, trải bao phen vào sinh ra tử, vẫn được giữ gìn nguyên vẹn.
Năm Khả mười sáu tuổi, Phùng Quý bắt về làm nô, định sẽ thiến đi để biến anh thành con vật cho dễ sai khiến. Khả lập mưu trốn thoát. Phùng Quý tức giận bắt cha Khả tra tấn đến chết. Khả tuy đã từ biệt cha nhưng vẫn lén lút tại nhà bà cô bên kia sông để nghe ngóng tình hình. Đến ngày thứ ba, Khả bỗng thấy ruột gan mình nóng như thiêu. Chờ trời tối, Khả bơi xuôi dòng sông Mã tìm gặp thằng bạn con bà hàng nước ven đê. Nó cho biết lúc chiều quân Ngô đem một ông già đã chết khô cứng, ném xuống sông. Suýt nữa Khả òa lên khóc. Khả lần tới bến, mò xuôi một quãng thấy xác cha. Khả ôm thi hài bơi ngược dòng về tới bến quê nhà, đem chôn giấu trong một lùm cây rậm. Rồi khả tìm đến Lam Sơn xin nương tựa chủ trại Lê Lợi, được ông ân cần dạy bảo mọi điều. Năm ông mở hội thề Lũng Nhai, Khả mới mười bảy tuổi, phải khai tăng thêm một tuổi để dự hàng nghĩa sĩ tuyên thệ một lòng giết giặc cứu nước, rửa thù nhà. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, xưng Bình Định vương, Khả được phong làm tướng đứng đầu đội quân Thiết đột (cảm tử).
May mắn sao, trận này, Phùng Quý lại dẫn xác đến và Khả gặp dịp giáp mặt kẻ tử thù. Hắn sững người một chút rồi vung siêu đao thúc ngựa chồm tới. Khả bình tĩnh múa giáo đón đỡ. Cuối cùng, Phùng Quý bị đâm một nhát ngã lăn xuống đất. Khả cắt đầu kẻ thù chạy biến vào rừng...
Không thể về bến sông quê nơi người cha yên giấc ngàn năm. Khả dùng tấm áo cha thay hài cốt, vun đất thành nấm mộ giữa rừng sâu. Anh đặt cái đầu Phùng Quý xuống trước mộ làm lễ cúng cha:
- Lạy cha sống khôn chết thiêng...
Hình ảnh người cha già yếu đói khổ bị giặc tra tấn đến tả tơi da thịt hiện lên trong tâm tưởng khiến Khả nghẹn lời, lưng khòm mãi xuống, hay tay ôm choàng lấy nấm mộ...Đến khi anh ngửng nhìn lên thì...
Không biết từ lúc nào, Bình Định vương cùng tướng sĩ thân cận đã tìm được đến đây. Họ đang lặng lẽ thành kính đứng trước mộ cha anh.
Hoàng Tuấn Phổ
(Tạp chí Văn nghệ thiếu nhi-1991)