Thursday, November 7, 2019

Quốc âm tân tự - 國音新字


TÊN GỌI

Quốc âm tân tự (chữ Hán: 國音新字) là một loại chữ viết biểu âm. Tên gọi “Quốc âm tân tự” có nghĩa là chữ ký âm của tiếng nói quốc gia.

[Ở đây có một câu hỏi: Tại sao không phải là “quốc ngữ” mà lại là “quốc âm”? - Jeff]

TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI

Dự thảo Quốc âm tân tự hiện còn hai bản viết tay cổ (mỗi bản có bốn tờ) của cùng một văn bản viết về loại chữ này đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam. Trong văn bản Quốc âm tân tự không có thông tin cho biết ngày tháng năm cụ thể tác phẩm này được viết ra. Căn cứ vào việc trong lời tựa của tác phẩm chữ “華” (hoa) trong tên gọi “中華” (Trung Hoa) đã được tị huý bằng cách bỏ không viết nét cuối của chữ này (nét sổ) thì có thể đoán rằng văn bản này được viết dưới thời vua Thiệu Trị (Mẹ vua Thiệu Trị tên là “Hồ Thị Hoa” 胡氏華). Cuối lời tựa của văn bản có dòng chữ “五星聚斗南城居士阮子書” (Ngũ Tinh Tụ Đẩu Nam thành cư sĩ Nguyễn tử thư). Qua dòng chữ này có thể biết rằng tác giả của Quốc âm tân tự là một cư sĩ mang họ Nguyễn (阮) ở thành Nam Định (南定) có biệt hiệu là Ngũ Tinh Tụ Đẩu (五星聚斗).[9]

NỘI DUNG

Quốc âm tân tự có 22 “cán tự” 幹字 và 110 “chi tự” 枝字. Cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu, chi tự dùng để ghi vần. Mỗi cán tự đều được đặt tên bằng một từ mang vần “ông” có phụ âm đầu là phụ âm đầu mà cán tự đó biểu thị, ví dụ như cán tự biểu thị phụ âm “đ” được đặt tên là “đông”. Quốc âm tân tự không phân biệt “d” và “gi” như chữ quốc ngữ. Có một cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu /ʔ/, cán tự này được đặt tên là “ông”.[10]

Tác giả của Quốc âm tân tự đã dùng bốn nét bút là ngang (一), sổ (丨), chấm (丶), phẩy (丿) (nét phẩy còn có biến thể là “㇏”) để tạo nên các cán tự và chi tự. Không phải chữ đơn nào cũng có đủ bốn nét bút kể, có những chữ đơn chỉ có chứa hai hoặc ba nét bút nhưng dù một chữ đơn có bao nhiêu nét bút thì tổng số nét, không phân biệt loại nét bút, trong chữ đơn đó đều là bốn.[11]

Quốc âm tân tự sử dụng cách phân chia thanh điệu truyền thống, thanh điệu được chia thành bốn loại là “bình” 平, “thướng” 上, “khứ” 去, “nhập” 入. Mỗi loại lại được chia ra thành hai bậc “âm” 陰 và “dương” 陽.[12] Tổng cộng có tám thanh là:[12]

“Âm bình” 陰平: là thanh ngang theo cách gọi ngày nay.
“Dương bình” 陽平: là thanh huyền theo cách gọi ngày nay.
“Âm thướng” 陰上: là thanh hỏi theo cách gọi ngày nay.
“Dương thướng” 陽上: là thanh ngã theo cách gọi ngày nay.
“Âm khứ” 陰去: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương khứ” 陽去: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Âm nhập” 陰入: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương nhập” 陽入: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.


Các thanh thuộc bậc âm được ghi bằng một dấu nhỏ hình nửa vòng tròn, các thanh thuộc bậc dương được ghi bằng một dấu nhỏ hình vòng tròn. Để biểu thị thanh bình, dấu thanh được đặt bên cạnh “chân trái” của chữ, với thanh thướng dấu thanh được đặt bên canh “vai trái” của chữ, với thanh khứ dấu thanh được đặt bên cạnh “vai phải” của chữ, với thanh nhập dấu thanh được đặt bên cạnh “chân phải” của chữ.[12]

Jeff - Sưu tầm từ wikipedia và tài liệu trôi nổi.

Monday, September 8, 2014

Thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ là ai?


Thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ là ai? là câu hỏi mà bao năm các nhà sử học đang tìm lời giải. Trong bài viết này, tôi viết ngắn gọn về thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ mà tôi tìm hiểu, nghiên cứu, phát hiện được trong các tư liệu lịch sử, xin được giới thiệu để con cháu họ Trần cùng tìm hiểu. Trải bao thăng trầm của lịch sử, hậu duệ của Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc đã có 18 nhánh họ, sống rải rác ở Linh Lăng, Quế Dương, Liễu Châu (Trung Quốc). Người hậu duệ đời thứ 27 thuộc ngành trưởng là ông Trần Định Nhân, chủ quán cà phê ở thị trấn Nhạc Dương bên hồ Động Đình ( tỉnh Hồ Nam Trung Quốc ) còn lưu giữ tại từ đường cuốn “Phả tộc Trần” vô cùng quý giá. “Phả tộc Trần” do Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc viết sau năm 1285 khi ông sống lưu vong ở Hồ Nam - Trung Quốc, là cuốn gia phả viết công phu, đầy đủ nhất về họ Trần từ năm 227 trước Công nguyên đến năm 1300 sau Công nguyên.
Theo chính sử thời Trần còn lưu giữ tại Viện Lịch sử Việt Nam và "Phả tộc Trần"do Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc biên soạn thì gốc tích xa xưa từ đời Chiến quốc, họ Trần thuộc nhóm tộc người Bách Việt sống ở đất Mân (Phúc Kiến - Trung Quốc). Năm 227 trước công lịch, Phương chính hầu Trần Tự Minh đang làm quan cho Triệu Đà, vì mâu thuẫn giữa người Hán và người Bách Việt ông đã theo dòng người Bách Việt di cư xuống phía Nam. Tự Minh được vua An Dương Vương thu nạp, trở thành vị tướng tài ba, cùng Cao Lỗ giúp vua chống lại Triệu Đà. Khi thành Cổ Loa thất thủ, đất nước rơi vào tay cha con Triệu Đà, Trần Tự Minh lui về sống ẩn dật ở đất Kinh Bắc. Dòng họ Trần trải qua 700 năm ở Kinh Bắc phân ra nhiều nhánh, nhưng dòng thống tôn đến đời Trần Tự Viễn (582 - 637) nổi lên như một nhân tài kiệt xuất của xứ Giao Châu. Hồi ấy ở Từ Sơn có sư Pháp Hiền, đệ tử của Đại sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Ấn Độ) đang dụng công truyền bá đạo Phật Thiền tông, thu nạp rất đông môn đệ, cư tăng lúc nào cũng hơn 300 người. "Thiền tông phương Nam bấy giờ thịnh nhất”. Chú bé mồ côi kiếm củi gần chùa là Trần Tự Viễn được sư Pháp Hiền thu nạp, yêu mến dạy cho học thông tam giáo (Phật - Nho - Lão) và cả võ công nữa. Sau nhiều năm tu luyện, Tự Viễn trở thành môn đệ xuất sắc nhất của Phật phái Thiền tông và cũng rất nổi tiếng võ công cao cường. Môn phái võ thuật của ông đặc sắc nhất là Hổ quyền và Ưng - Xà quyền. Tự Viễn kế nghiệp thầy Pháp Hiền say sưa truyền bá đạo Phật Thiền tông và đem võ công đặc sắc của mình cùng đệ tử giúp dân chống lại sự đô hộ hà khắc của nhà Tuỳ, nhà Đường. Dân khắp vùng đều sùng kính, tôn ông là Phật sống. Có lẽ đây là lý do giải thích vì sao dòng dõi họ Trần sau này rất thượng võ, nhưng cũng rất sùng đạo Phật, khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử. 
Họ Trần dòng thống tôn có chữ đệm là “Tự” cư ngụ ở Kinh Bắc, truyền đến đời Trần Tự An (1010 - 1077) mỗi ngày thêm hiển hách trong giới võ lâm của Đại Việt. Để phân biệt với các võ phái khác, Tự An đặt tên cho võ phái của mình là Đông A, chiết tự chữ “Trần” ra hai chữ “Đông” và “A” mà thành. Thời ấy ở Đại Việt ta có ba võ phái nổi danh: võ phái Lĩnh Nam xuất phát từ đất Mê Linh sau lưu truyền quanh vùng Tam Đảo - Ba Vì; võ phái Hoa Sơn xuất phát ở Kinh Bắc rồi lan truyền ra Thăng Long và các vùng phụ cận và võ phái Đông A của Tự An. Ba võ phái trên đều tràn đầy lòng tự tôn dân tộc, nhưng có sự khác nhau về hệ tư tưởng, lại muốn thống trị giới võ lâm cả nước nên mâu thuẫn khá gay gắt. Phái Lĩnh Nam sùng bái đạo Lão. Hai phái Hoa Sơn và Đông A cùng xuất phát ở Kinh Bắc, nhưng Hoa Sơn theo Phật giáo Nghiêm Hoa tông, còn Đông A theo Phật giáo Thiền tông. Phái Hoa Sơn thuộc hoàng tộc họ Lý nên đương nhiên lấn át phái Lĩnh Nam và Đông A về nhiều phương diện. Thế nhưng Đông A với sự dìu dắt của Trần Tự An hồi ấy có “Côi Sơn tam anh” là ba nhân vật võ công lừng lẫy: Thanh Mai, Tự Mai và Thông Mai. Trước khi qua đời, Tự An khuyên con trai Tự Mai nên tìm cách chuyển võ đường Đông A đi nơi khác, tránh sự xung đột với phái Hoa Sơn, có hại cho sự nghiệp chung của võ lâm Đại Việt. Lúc đầu Tự Mai chuyển đến ở Đông Triều - Chí Linh, sau đến đời con (khoảng cuối thế kỷ XI) là Trần Tự Kinh chuyển đến dừng chân ở Tức Mạc với hai người con trai rất giỏi võ là Trần Tự Hấp và Trần Tự Duy. Về cuối đời, ông nghe theo lời của con trưởng Tự Hấp chuyển hẳn về đất Thái Đường, định cư lâu dài, có nhiều ân đức với dân trong vùng. Đến đời Tự Hấp kế tục làm trưởng môn phái võ Đông A, thanh thế họ Trần đã rất lớn. Huyền tích trong tộc phả giải thích lý do họ Trần rời Tức Mạc về Thái Đường khá ly kỳ: Sau khi Lý Nhân Tông chết, triều đình có sự rối ren. Một hôm Tự Kinh và hai con là Tự Hấp và Tự Duy cùng mấy chục đệ tử đi thuyền trên sông Cái, Tự Hấp phát hiện thấy có xác người bị đóng bè trôi sông liền sai thủ hạ vớt lên. Trong số môn đệ phái Đông A có Phạm Tử Tuệ giỏi về y thuật. Ông phát hiện thấy xác còn hơi ấm, kinh mạch trì bế nhưng chưa tắt hẳn nên hết lòng cứu chữa theo lệnh của Tự Hấp. Kẻ được cứu nạn là Đoàn Thông quê ở lộ Hồng Châu (Vĩnh Phúc ngày nay). Ông ta bị một viên quan gian ác ở Thăng Long là Nguyễn Cố sát hại. Vốn là thầy địa lý có tiếng tăm, Đoàn Thông mách với Tự Hấp rằng ở đất Thái Đường có khu đất tụ nhiều linh khí, nếu đặt mộ tổ vào đó ắt có ngày sẽ phát đế vương. Tự Hấp nghe xong cả mừng xin cha cho đi gấp về quê cũ Kinh Bắc chuyển mộ cụ cố Trần Tự Mai về đặt ở Thái Đường, rồi chuyển cả gia quyền về đó sinh sống. Nhờ vậy gia tộc họ Trần mỗi ngày thêm phát đạt, võ môn Đông A càng thêm hưng thịnh, thu hút nhân tài khắp nơi về tụ họp, môn đệ ngày một thêm đông, thanh thế võ đường Đông A ngày thêm lớn, con cháu có nhiều người văn võ song toàn có tài kinh bang tế thế.
Trần Tự Hấp ở đất Thái Đường sinh ra Trần Lý, Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung. Thừa sinh ra Trần Liễu và Trần Cảnh. Người em ở đất Lưu Xá bên cạnh là Trần Tự Duy vì mâu thuẫn sâu sắc với họ Lưu, tàn sát họ này quá nhẫn tâm nên tổn hao âm đức, chỉ sinh được Trần Thủ Huy, đến đời Huy chỉ sinh ra Thủ Độ rồi tuyệt tự (chính  sử  ghi: Trần Thủ Độ sinh ra ở Lưu xá)
Theo gia phả của con cháu Chiêu-Quốc Vương Trần Ích Tắc tại Trường-Sa Trung-Quốc, thì Trần Thủ Huy là một tướng giỏi đời vua Lý Anh Tông, nên được nhà vua giả công chúa Lý Đoan Nghi làm vợ. Công chúa Lý Đoan Nghi là con của vua Lý Anh Tông với bà thần phi Bùi Chiêu Dương, nên Trần Thủ Độ là cháu ngoại vua Lý Anh Tông, là con của Phò-mã Trần Thủ Huy và Công chúa Đoan Nghi (con vua Lý Anh Tông).
Như vậy, nếu xét từ đời Tự Kinh thì Tự Hấp thuộc ngành trưởng, Tự Duy thuộc ngành thứ. Đến đời Trần Thừa và Thủ Độ quan hệ giữa hai người là anh em cùng họ khác cành và đã sang đời thứ ba. Đó là lý do vì  sao Trần Lý hứa gả Thị Dung cho Thủ Độ, theo luật tục họ Trần cứ ba đời quay lại thông gia với nhau (nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học để lý giải về những bí ẩn xung quanh Trần Thủ Độ và họ Trần, như: tại sao tại đền Lim (Bắc Ninh) lại thờ Thái sư Trần Thủ Độ, tại sao Trần Thủ Độ lại lấy chị họ là Trần Thị Dung, tại sao nhà Trần dời tức Mạc (Nam Định) về Thái Đường (Thái Bình), tại sao đạo Phật thời nhà Trần lại trở thành Quốc đạo....và những điều phi lý khác ).
Theo TS. Trần Hoàng Bách/Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thái Bình

Đôi anda nổi tiếng nhất lịch sử


Chân dung Chinghiz Hãn được vẽ vào Tk 14

Trong ngôn ngữ Mongol, “anda” nghĩa là anh em kết nghĩa. Trong các văn bản tiếng Việt, anda thường được phiên âm là an đáp, xuất phát từ các văn bản tiếng China là 安答 /ān dá/. Trong không gian văn – sử Việt Nam, nhóm anh em kết nghĩa nổi tiếng nhất chính là Liu Bei, Guan Yu và Zhang Fei thời Tam quốc bên China; thứ nhì là đôi anh em Sun Wukong và Niu Mawang trong Tây du ký. Tuy nhiên, đặc biệt nhất, nổi tiếng nhất lịch sử thế giới phải là đôi kết nghĩa Temüjin – Jamukha, thường được biết với tên Thiết-mộc-chân và Trát-mộc-hợp. Nổi tiếng vì một người là Gurkhan (Cổ-nhi-hãn) của 13 bộ lạc, một người là Chinghiz Khan (Thành-cát-tư Hãn) lừng danh thiên cổ, người đã để lại cho hậu duệ của mình một lãnh thổ mênh mông[1] với hàng trăm sắc dân[2], hàng chục tôn giáo. Đặc biệt vì họ kết anda đến ba lần cùng vô số lần đánh nhau chí chết.
Theo Bí sử Mongol, Temüjin thuộc dòng dõi Gia tộc Hoàng kim. Tổ tiên chung của người Mongol là Borte Sino (Sói xám) và Gua[3] Maral (Hươu trắng xinh đẹp). Trải qua 20 đời với vô vàn khó khăn gian khổ và không ít lần vinh quang thì bộ tộc Mongol nói chung và tộc Kiyad của Temüjin bước vào kỳ suy thoái. Sau cái chết của cha của Temüjin là Yesükhei, người được bầu làm thủ lĩnh của tộc Kiyad nhưng không phải là Khagan (Khả-hãn) của Khamag Mongol[4], thì tộc Kiyad chính thức tan rã. Nguyên nhân chính của sự chia ly này là cuộc chiến giành giật ngôi vị Khagan giữa gia tộc Borjigin của Temüjin, gia tộc Tayichiud của Targudai và gia tộc Yürki của Sacha Bieqi. Cả ba đều thuộc dòng dõi của Khaidu Khan (Hãn), tức là dòng dõi Gia tộc Hoàng kim.
Trong khi đó, Jamukha là người của tộc Jadaran. Tuy cũng thuộc bộ tộc Mongol nhưng tộc Jadaran được cho là ngoại tộc. Cũng theo Bí sử Mongol, trong một cuộc chiến, ông tổ của bộ tộc Mongol là Bondochar đã bắt được một phụ nữ[5] mang thai. Bào thai đó chính là tổ tiên của tộc Jadaran.
Quyền lực là thuốc phiện dành cho đàn ông. Vậy nên, với xuất thân ngoại tộc, một người thông minh và nhiều tham vọng như Jamukha khó lòng chấp nhận cảnh một rừng hai hổ hay tệ hơn là phải ở dưới một ai đó – dù đó là người anh em kết nghĩa.
Cuộc chiến đầu tiên và kết giao lần một
Đấy là lần đôi bên cùng đi săn và cùng bắn trúng một con hươu. Cả hai đang ở tầm tuổi thiếu niên nhưng theo truyền thống của các bộ lạc du mục họ đã là những tay cung thiện xạ. Chuyện kể rằng Temüjin bắn trúng vào mông hươu. Bị đau, hươu chạy vào rừng và bị Jamukha bắn gục bằng một mũi tên xuyên thẳng vào đầu. Sau một hồi tranh cãi, cả hai đi đến quyết định con mồi sẽ thuộc về kẻ chiến thắng sau 3 hiệp đấu vật. Kết quả là Temüjin thắng hai lần và được quyền lấy hươu. Tuy nhiên, vì cảm phục trước trí thông minh cùng lòng dũng cảm của Jamukha, Temüjin đề nghị cả hai kết làm anda và chia đôi con hươu. Hai cậu thiếu niên cầm lấy hai đầu mũi tên và cùng hướng lên Trời xanh[6] tuyên thệ: “Tôi là Temüjin và tôi là Jamuka, nguyện cùng kết làm anda. Kể từ nay về sau, thề cùng sinh tử không bỏ nhau, vĩnh viễn sẽ không bao giờ làm trái lời thề!”
Jamukha trao cho Temüjin một tấm thạch bội làm bằng sừng hươu đực còn Temüjin trao cho người anh em mới tấm thạch bội bằng đồng để làm tin.
Kết giao lần hai
Lúc này, cả hai đã lớn hơn đôi chút. Yesükhei đã qua đời vì bị bộ tộc Tartar đầu độc và Temüjin trở thành trụ cột của gia đình 10 miệng ăn gồm 7 đứa trẻ và 3 người đàn bà. Kể ra, lần này cũng có một cuộc chiến nhưng là cuộc chiến tâm lý. Theo Chu Diệu Đình và Du Trí Tiên, tác giả của cuốn Thành-cát-tư Hãn thì Jamukha chính là người lợi dụng hiềm khích sẵn có, xúi dục Temüjin giết người anh em cùng cha khác mẹ của mình là Bekhter[7]. Trước khi cùng cậu em ruột Qasar truy tìm và bắn chết Bekhter, Temüjin và Jamukha đã cùng nhau thực hiện lại nghi thức kết giao.
Kết giao lần ba
Lúc này, nhờ sự giúp đỡ của nhà Sorgan-Shira, Temüjin vừa trốn khỏi nơi giam cầm của gia tộc Tayichiud[8]. Trên đường đi tìm lại gia đình thì gặp Jamukha. Khác với hai lần trước, lần này, Jamukha là người mở lời đề nghị thực hiện nghi thức kết anda một lần nữa và hứa sẽ giúp Temüjin khôi phục lại vị thế của Gia tộc Hoàng kim.
Cả hai cắm chín cọng cỏ xuống đất tượng trưng cho chín cây nhang rồi nắm tay vào hai đầu mũi tên, cùng hướng lên Trời xanh tuyên thệ: “Xin trời xanh chứng giám, tôi là Temüjin, còn tôi là Jamuka, cả hai nguyện kết làm anda. Từ nay về sau cùng đồng sinh đồng tử, không bao giờ bỏ nhau, có phúc cùng hưởng, gặp hoạn nạn cùng chia, nếu ai phản bội lại lời thề này thì trời đất không tha!”
Bắt đầu từ đây, Temüjin tiến bước trên con đường khôi phục vị thế gia tộc và thống nhất Mongol thành một quốc gia hùng mạnh. Ông hoàn toàn không ngờ được người anh em kết nghĩa sau này sẽ trở thành đối thủ chính trị và quân sự hùng mạnh mà ông buộc phải loại bỏ trên con đường đoạt lấy đỉnh cao quyền lực.
Cuộc chiến lần hai – Thoát hiểm trong gang tấc
Hơn một năm sau ngày giúp Temüjin tấn công bộ lạc Merkit, giành lại người vợ yêu Börte bị bắt trước đó, Temüjin và Jamukha chia tay. Mỗi bên chính thức xây dựng đoàn trại, khu chăn nuôi và lực lượng quân sự riêng.
Một thời gian sau, em trai của Jamuka là Daichar đã ngang nhiên cướp ngựa và giết chết tay chân của Temüjin, bắt buộc viên cận tướng của Temüjin là Jelme phải chống trả và chém chết Daichar. Mâu thuẫn bùng nổ. Jamukha tập hợp một liên minh 13 bộ lạc, bao gồm cả người Tartar, Naiman và người Tayichiud bao vây hòng tiêu diệt triệt để bộ lạc Kiyad.
May mắn sao, trong hàng ngũ của liên minh 13 bộ lạc có hai người vốn là bạn bè thân cận với gia đình Temüjin. Một là Monglik, người đã từng giúp đỡ Temüjin rất nhiều khi cha ông qua đời. Hai là Jurchedei[9] – chú họ của Temüjin. Hai người này đã ngầm thông báo kế hoạch tác chiến của Liên minh 13 bộ lạc đồng thời tạo điều kiện để Temüjin phá vây ở vị trí trận địa của họ.
Tuy giành được chiến thắng nhưng trận chiến này đã bôi một vết nhơ lên uy tín và khả năng thu phục nhân tâm của Jamukha. Khi trận chiến kết thúc, giận dữ trước việc không bắt sống được Temüjin, Jamukha đã ra lệnh luộc chín 70 tù binh người Chinos. Trong khi đó, dù thất bại nhưng sức mạnh của Temüjin lại tăng lên nhờ việc Monglik và Jurchedei xin gia nhập hàng ngũ.
Cuộc chiến lần ba – Tiêu diệt thế lực Jadaran
Năm 1201, thế lực ngày càng lớn mạnh của Temüjin đã gây không ít áp lực lên các bộ lạc khác, bao gồm cả những Đại Ulus[10] trên thảo nguyên. Trong bối cảnh đó, Jamukha một lần nữa đứng ra tập hợp liên minh nhằm tiêu diệt Temüjin và đồng minh của ông là bộ lạc Khereid do Toghrul Hãn[11] lãnh đạo. Thủ lĩnh của 12 bộ lạc đã cùng tuyên thệ, bầu Jamukha lên làm Gurkhan (Hãn của các Hãn) để thống nhất chỉ huy liên quân. Hàng vạn vó ngựa rậm rịch, hàng vạn chiến sỹ đằng đằng sát khí tưởng có thể ầm một phát như sét đánh ăn tươi nuốt sống lực lượng của Temüjin.
Tiếc thay cho Jamukha và may thay cho Temüjin, liên quân không thể ngờ được hai khuyết điểm lớn trong tác chiến tồn tại ngay trong lòng họ. Đó là không biết giữ bí mật quân sự và không phối hợp hành động.
Cần biết rằng, trước Temüjin, chiến tranh trên thảo nguyên chỉ phục vụ cho mục đích cướp bóc. Ngay khi tấn công và làm địch thủ hoảng hốt bỏ chạy, bên tấn công sẽ không lập tức tiến hành truy kích mà tập trung vào việc cướp phá lều trại, bắt tù binh làm nô lệ và cưỡng hiếp gái đẹp. Việc này không những làm cơ hội tiêu diệt triệt để kẻ thù trôi qua mà còn làm rối loạn đội hình và thậm chí, gây mâu thuẫn nội tại cho bên chiến thắng. Hơn nữa, liên minh của Jamukha là một đội quân ô hợp, chưa bao giờ phối hợp tác chiến diện rộng.
Cũng cần phải biết rằng, một trong các lực lượng thuộc liên minh là Olkunut – bộ lạc nhiều đời thông gia với tộc Kiyad. Người lãnh đạo lực lượng này trong liên minh lại chính là Dei Seichen – bố vợ của Temüjin. Không thể đứng yên nhìn chàng rể bị hại, Dei Seichen – thông qua gia đình Sorgan-Shira, người đã từng cứu thoát Temüjin năm nào – đã tuồn toàn bộ thông tin bố trí lực lượng và kế hoạch tác chiến cho Temüjin.
Chưa đầy một ngày giao chiến, liên quân đã tan rã hoàn toàn, vị Gur Hãn mới đắc cử dẫn tàn binh tháo chạy vào một hẽm núi và bị Jakha Gambhu của bộ lạc Khereid bắt sống. Theo đề nghị của Jamukha, ông ta được giao cho Temüjin toàn quyền định đoạt.
“Temüjin bứt đứt tấm thạch bội từ trên cổ của Jamuka xuống, rồi bứt đứt tấm thạch bội của mình đang mang nhập vào nhau, trao cho Jamuka:
- Tình bạn và hận thù, ân và oán giữa hai chúng ta hôm nay xem như đã thanh toán xong. Tôi sẽ nhờ Ong Khan, người anda của cha tôi thu dụng anh. Từ nay về sau, hy vọng chúng ta không trở thành thù địch, được không?”
Cuộc chiến lần bốn – Gur Hãn, vị thực khách lang thang
Làm thực khách nhà người chưa ấm chỗ thì vị Gur Hãn thất thế đã tìm cách xúi giục Ong Khan Toghrul gây chiến với Temüjin. Tranh thủ mối bất hòa giữa Senggum – con trai của Ong Khan và Temüjin, Jamukha cuối cùng đã đạt được mục đích. Vị Ong Khan già nua và ba phải đã chấp nhận leo lên lưng ngựa một lần nữa.
Năm 1203, bị bất ngờ trước đòn tập kích như sấm chớp từ phía đồng minh tin cậy, lực lượng của Temüjin nhanh chóng tan rã. Temülin – cô em gái duy nhất bị bắn chết. Cậu em trai Qasar cùng đám cận tướng như Bo’orchu, Borokhula mất tích. Vợ, con gái và hai con trai của Qasar bị Senggum bắt sống. Cậu con trai thứ ba – Ögedei – người sau này kế vị Temüjin bị thương nặng. Bản thân lực lượng chạy theo Temüjin chỉ còn 4.600 người.
Để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn, Temüjin ra lệnh nhanh chóng triệt thoái về phía đông đến vùng Hulunbuir. Jamukha dẫn quân ráo riết truy kích.
Lần này, chính sự ba phải của Ong Khan đã cứu Temüjin và quay lưỡi hái thần chết về chính ông ta. Để chăm sóc vết thương cho cậu con trai duy nhất Senggum và vì đánh giá quá thấp Temüjin, Ong Khan ra lệnh cho Jamukha dừng truy kích.
Trong quá trình này, mối bất hòa của cha con Ong Khan càng ngày càng dâng cao. Ong Khan, vì tình nghĩa xưa cũ với gia đình Temüjin, không muốn đuổi cùng giết tận. Senggum, lo sợ người con nuôi của cha mình chiếm mất địa vị sau này, chỉ mong giết chết Temüjin sớm ngày nào hay ngày ấy. Mặt khác, sau trận chiến, dù là bên thắng trận nhưng lực lượng của bộ tộc Khereid cũng bị tổn thất không nhỏ. Nhận thấy tình hình đó, Jamukha cùng với những người ủng hộ mình lập kế hoạch ám sát cha con Toghrul, tiêu diệt bộ lạc Khereid và tranh thủ lúc Temüjin bị suy yếu để xây dựng lực lượng hòng tranh chấp quyền thống trị thảo nguyên.
Không may cho ông ta, âm mưu bị bại lộ từ trong trứng nước. Trong khi cả đám đang bàn bạc thì bị lực lượng của Toghrul tập kích. Jamukha cùng đám đồng minh và vài trăm tùy tùng may mắn chạy thoát sang đầu nhập dưới trướng Tayang Hãn của bộ lạc Naiman.
Mùa thu năm 1203, sau một thời gian quy tập lực lượng thất lạc, chấn chỉnh đội ngũ, khôi phục sức mạnh, Temüjin phát động cuộc chiến với bộ lạc Khereid. Sử dụng chiến thuật ưa thích của mình, Temüjin phái con trai út của Qasar sang gặp Ong Khan khóc lóc xin cho cha mình đầu hàng với lý do Temüjin đã mất tích còn gia đình anh ta thì không nơi nương tựa. Ong Khan chấp nhận.
Đúng lúc Ong Khan đang bày tiệc đón Qasar thì đạo binh của Temüjin bất ngờ xuất hiện như trời giáng. Quá hoảng hốt, Ong Khan và Senggum cùng một số bộ hạ thân tín chỉ còn biết bỏ chạy. Toàn bộ lực lượng Khereid đầu hàng Temüjin.
Vài ngày sau, Toghrul Ong Khan bị lực lượng biên phòng Naiman giết chết. Senggum bỏ mặc cha mình gặp nạn, chạy về phía lãnh địa của dân Tangut; rốt cục bị chính tên lính giữ ngựa của ông ta đâm chết.
Đến đây, xem như Temüjin đã nắm trong tay 2/3 thảo nguyên. Các Đại Ulus như Khereid, Tartar, Merkit đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Tất cả các nhân vật chủ chốt bị giết chết, số dân còn lại bị Temüjin phân tán vào các đoàn trại Mongol và dần dần đồng hóa. Đối thủ duy nhất cản trở ước mơ thống nhất thảo nguyên của ông chỉ còn Naiman – một bộ lạc hùng mạnh và văn minh hơn nhiều.
Cuộc chiến lần năm – Lên trời trong túi da bò
Naiman là một bộ lạc lớn, có quốc gia, có triều đình, địa bàn thuộc vùng núi Altay, nằm về phía tây Mongol. Naiman không chỉ là vật cản cuối cùng trên con đường của Temüjin mà còn là nơi đang dung dưỡng những kẻ thù còn lại của Temüjin: Jamukha của bộ lạc Jadaran; Toqto’a và Hudu của bộ lạc Tartar; Quchar – anh họ và Altan – chú họ, những kẻ nhăm nhe tranh đoạt Hãn vị.
Sau khi thu nạp tập đoàn lưu lạc của Jamukha, Tayang Hãn, vị vua chưa bao giờ chinh chiến của Naiman và con trai ông ta – Kuchlug quyết định xuất quân chinh phạt Mongol. Nhằm tạo thế gọng kìm, Tayang Hãn sai sứ sang Onggud đề nghị bộ lạc này hợp tác. Onggud nguyên là một bộ lạc khá phát triển nằm ở đông nam Naiman và giáp giới với nước Jin. Onggud có mối liên hệ chặt chẽ với Jin cả về mặt chính trị lẫn quân sự, kinh tế.
Trước đây, do góp phần trừng phạt một số bộ lạc theo lệnh của Thừa tướng nước Jin là Wanyan Xiang, Temüjin đã từng được Wanyan Thừa tướng phong cho một chức quan nhỏ. Nhờ vào chi tiết này, người Onggud đánh giá Mongol là đồng minh thực sự. Tù trưởng Onggud là Ala-Qush[12] đã bắt sứ giả Naiman đồng thời cử sứ đoàn sang thông báo toàn bộ ý đồ của Naiman cho Temüjin.
Sau khi nhận được tin tức, Temüjin quyết định chủ động tấn công Naiman. Chính thời điểm này chứng kiến bước cải tổ quan trọng nhất của quân đội Mongol. Temüjin chính thức phá vỡ biên chế theo gia tộc, bộ tộc. Ông tổ chức quân đội thành từng nhóm 10 người gọi là Arban, mười arban tạo thành một Zuun, mười zuun là một Minggan, mười minggan là một Tümen.  Mùa thu năm 1204, sau khi vượt qua quãng đường dài từ Hulunbuir, mấy vạn người ngựa của Temüjin đã đến biên giới Naiman.
Hạ trại xong, Temüjin lệnh cho mỗi binh sĩ phải đốt năm đống lửa khi đêm xuống. Đêm đó vị Tayang Hãn vừa hùng hổ vừa nhát gan của Naiman hoảng hốt trước ánh lửa trùng trùng điệp điệp của quân Mongol nên đã lập tức ra lệnh cho Kuchlug và Sabolehei rút quân. Tuy nhiên, trước sự khích bác của Sabolehei và Kuchlug, Tayang Hãn cuối cùng vẫn xua quân tiến lên.
Sau một trận chiến ác liệt, quân Naiman bị đánh bại hoàn toàn. Tayang Hãn và Sabolehei tử trận. Thái tử Kuchlug[13] trốn thoát. Đám thực khách Jamukha bỏ chạy theo nhiều hướng khác nhau. Thời gian ngắn sau, Jamuka bỏ chạy tới vùng núi Tannu Ola và bị đám tùy tùng làm phản, bắt trói giao cho Jebe.
Khi Jebe áp giải tất cả về, Temüjin ngay lập tức xử tử đám tùy tùng của Jamukha vì tội phản chủ và đề nghị với Jamukha:
“- Vậy bây giờ hãy để những gì thuộc về quá khứ tan biến đi như mây khói và chúng ta trở thành đôi bạn như xưa. Trong Hãn quốc Mongol này anh chỉ dưới một mình tôi, nhưng anh trên hằng vạn người khác, được không?
Jamukha lắc đầu, đáp:
- Trong thời điểm có thể làm bạn với anh thì tôi lại không làm bạn, còn bây giờ anh đã thu gom bá tánh, đã dẹp yên tất cả bộ lạc, đại sự trong thiên hạ đã được định hình. Vậy tôi đâu thể tìm tới để làm bạn với anh. Vì nếu tôi làm như vậy, ngươi đời sau sẽ hiểu thế nào?!
Temüjin yên lặng đứng lên, rồi bước những bước khập khểnh đi tới một góc nhà. Ông ta ôm đầu ngồi xuống.
Jamukha nói:
- Anh hãy giết tôi đi!
Temüjin không có phản ứng. Jamukha càng xúc động hơn, nói:
- Anh thử nghĩ, nếu anh không giết tôi thì đêm anh sẽ không ngủ yên giấc, ngày anh sẽ không ăn ngon miệng, chẳng khác gì trên cổ áo anh có một con rận đang bò tới bò lui, trong túi áo anh đang có một cây kim nằm sẵn! - Jamukha bước đến gần Temüjin và đi vòng quành một lượt, nói tiếp - Anh là người đã hoàn thành được sự nghiệp lớn, vậy anh không thể yếu mềm như một người đàn bà. Anh nên biết, nếu tôi bắt được anh thì tôi sẽ xử trí với anh như thế nào? Tôi sẽ giết anh ngay mà không cần suy nghĩ!
Đôi mắt của Temüjin trào lệ. Ông ngước mặt lên nói:
- Nhưng, tôi không nỡ làm như thế!
- Nếu anh thương hại tôi thì anh nên cho tôi chết sớm!
Temüjin buông thõng hai tay, nói qua giọng yếu ớt:
- Thôi được![14]”
Đích thân Temüjin chỉ huy lính cận vệ khesig xử tử Jamukha bằng cách trùm lên người ông ta một chiếc túi da và thắt cổ đến chết.
Trang sử bi tráng giữa hai người anh em từ đây khép lại.
Năm 1206, Temüjin triệu tập toàn bộ các thủ lĩnh bộ lạc, các Noyan[15] về mở Đại hội Kurultai[16], chính thức thành lập Yehe Mongul Ulus (nước Đại Mongol), lên ngôi Đại hãn với danh xưng Chinghiz Hãn.
Hàn Giang



[1] 33,000,000 km². Trong lịch sử loài người, Đại Mongol là quốc gia có diện tích lớn thứ 2, sau British Empire. Tuy nhiên, diện tích này không tính khu vực Siber (nay là Siberia) lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng trực tiếp của Đế chế Mongol nhưng không được tuyên bố chính thức.
[2] 110 triệu dân, bằng 25,6% tổng dân số thế giới lúc bấy giờ.
[3] Gua là “người đẹp”, ví dụ Mongoljin Gua = người đẹp Mongol.
[4] Mongol thống nhất.
[5] Nhân vật này được cho là “Người phụ nữ của tộc Jarchuud Adankhan thuộc bộ tộc Uriankhai (Jarchuud Adankhan Uriankhajin, “jin” là hậu tố giống cái)”.
[6] Trời xanh, trong tiếng Mongol là Tengri, chính là vị thần tối cao trong tín ngưỡng của các bộ tộc thảo nguyên. Với nếp sống du mục, người thảo nguyên không xây dựng đền đài để thờ phụng Tengri mà họ luôn bày tỏ niềm tin và sự thần phục ở bất kỳ nơi đâu họ muốn.
[7] Theo Bí sử Mongol, cha của Temüjin có hai vợ. Bà Hoelun sinh ra Temüjin, Qasar, Khajiun, Temülin (nữ) và Temüge. Bà Sochigel sinh ra Bekhter và Belgutei. Trừ Bekhter bị bắn chết, 5 người còn lại dù ít nhiều đều góp sức cùng Temüjin xây dựng nên đế chế.
[8] Đây là giai đoạn thiếu dấu tích trong lịch sử. Có người cho rằng Temüjin chỉ bị bắt và giam cầm trong một giai đoạn ngắn nhưng cũng có nhà nghiên cứu cho rằng ông đã bị bắt làm nô lệ trong khoảng thời gian vài năm. Dù sao đi nữa, lúc này Temüjin chưa qua khỏi tuổi 20.
[9] Theo Bí sử Mongol, Jurchedei là con cả của Hotula Hãn. Hotula là em trai của Bartan Baghatur. Vị này là ông nội của Temüjin.
[10] Ulus trong tiếng Mongol nghĩa là quốc gia nằm dưới quyền cai trị của một Hãn. Tùy vị thế của Hãn mà Ulus đó có vị trí tương đương với một công quốc, đại công quốc hay vương quốc v.v. Trong các tài liệu tiếng Việt, đôi khi Ulus được phiên âm thành Ngột-lỗ-tư hoặc được dịch thành Hãn quốc.
Khi Temüjin bắt đầu khởi nghiệp, vùng thảo nguyên đông bắc Á có các đại ulus như: Khereid, Naiman, Merkit, Tartar.
[11] Toghrul là một trong hai thủ lĩnh mạnh nhất vùng đồng cỏ lúc bấy giờ. Ông là anda của cha Temüjin, đồng thời là cha kết nghĩa của Temüjin. Sử sách thường gọi ông là Ong Khan (hay Wang Khan) dựa theo tước vị mà ông được triều đình Jin phong tặng sau khi phối hợp với Temüjin đánh bại bộ tộc Tartar.
[12] Sử sách ghi lại chi tiết con gái của Temüjin là Alakhai Beki được gả sang bộ tộc Onggud nhưng chồng nàng là Ala-Qush hay con trai ông này là Buyan-Shiban thì không ai dám chắc cả. Chỉ biết rằng, sau khi người chồng đầu tiên bị giết trong một cuộc phản loạn thì Alakhai còn lấy thêm hai đời chồng nữa – đều là con riêng của chồng trước. Alakhai  là người cai trị thực sự ở Onggud và chính nàng đã biến địa bàn của Onggud thành một căn cứ địa vô cùng quan trọng cho các lần cử binh đánh nước Jin sau này của Temüjin.
[13] Về sau Kuchlug chạy sang nương nhờ Hãn quốc Kara-Khitan, lấy công chúa nước này, cướp ngôi, thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo, đàn áp dân chúng Islam. Cuối cùng, Kuchlug bị quân Mongol bao vây và bị cư dân trong thành giết chết.
[14] Tất cả các đoạn trích đều lấy từ tác phẩm Thành-cát-tư Hãn của Chu Diệu Đình và Du Trí Tiên.
[15] Quý tộc.
[16] Kurultai là tổ chức quyền lực phổ biến trong các sắc dân du mục ở thảo nguyên Mongol. Kurultai là một đại hội tập hợp các thủ lĩnh bộ lạc, các quý tộc có uy tín và hoạt động tương tự như Viện Nguyên lão của Cộng hòa La-mã (Roman Senate).

Monday, July 7, 2014

Lật lại một số "nghi án" lịch sử


Ỷ Lan lập mưu vu cho Lê Văn Thịnh đội lốt hổ giết vua trên hồ Dâm Đàm và cái chết của Lê Văn Thịnh là kết quả của cuộc chiến giữa Nho giáo (người đại diện là Thái sư Lê Văn Thịnh) và Phật giáo (đại diện là Nguyên phi Ỷ Lan đang nắm giữ vương quyền).
Tôi không phải là nhà sử học, nhưng rất thích đọc sách lịch sử. Thuở nhỏ, bố tôi dạy: Văn là người. Sử là gốc. Lớn lên, tôi thấy ngành Giáo dục Cuba coi môn Lịch sử quan trọng như môn Toán, môn Văn.
Còn ở ta thì buồn thay, có không ít thí sinh khi đã trở thành hoa hậu, người mẫu, ca sĩ lừng danh, vận động viên đoạt huy chương vàng quốc gia,... vậy mà trong nhiều cuộc thi kiến thức về lịch sử nước nhà, được truyền hình trên TV khi trả lời đã khiến khán giả đỏ mặt vì ngượng! Thế nên tôi mong muốn, nếu người nhà mình có đi thi, thì không trả lời ngô nghê như họ.
Nhiều điều tưởng như vô lý, nhưng lại rất thú vị, đều được các nhà sử học nước ta hiện nay kiến giải. Chỉ có điều, nó nằm trong các tập sách, các công trình nghiên cứu, mà chẳng mấy ai chịu đọc. Vì lẽ ấy, tôi trích đăng một vài tư liệu sưu tầm được của các nhà nghiên cứu lịch sử, ngõ hầu giúp bạn trẻ định hướng đúng tìm về cội nguồn. Đây chỉ là một cách tiếp cận, một cách học lịch sử thật sâu sắc và hứng thú. Nếu có gì chưa đúng, xin được quý bạn đọc chỉ giáo.
Đỗ Thích có giết Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn?
"Đại Việt sử ký toàn thư" của sử gia Lê Văn Hưu ghi: "Đỗ Thích đêm nằm trên cầu bỗng thấy sao rơi vào miệng, cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua".
Một màn kịch được dàn dựng rằng, sau khi giết hai cha con Đinh Tiên Hoàng, Đỗ Thích sợ trốn lên máng nước chịu đói, chịu khát. Bất chợt trời mưa, Đỗ Thích giơ tay hứng nước bị lộ, bị quân lính bắt trói, băm nát thành muôn mảnh".
Thật vô lý. Vì Đỗ Thích là cận vệ gần gũi nhà vua. Khi bị Nam Tấn Vương (Ngô Xương Văn) đuổi, Đỗ Thích cõng Đinh Bộ Lĩnh chạy trốn. Nghĩa là tình vua tôi đã được xác lập từ lúc nguy nan.
Lại nữa, tại sao Đỗ Thích chỉ giết Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn mà không giết nốt cả Đinh Toàn? Vì Đinh Toàn sống, tất sẽ nối ngôi vua cha và có quyền tru di tam tộc Đỗ Thích?
Vậy sự thật ra sao? Đó chính là âm mưu của Dương Thị Nga (mà giới nghệ sỹ hiện đại gọi là Thái hậu Dương Vân Nga) và Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn.
Dương Thị Nga là con gái Dương Tam Kha (anh vợ Ngô Quyền) cháu Dương Đình Nghệ (bố vợ Ngô Quyền) quê Thanh Hóa.
Bà qua 3 đời chồng:
- Đời chồng thứ nhất, lấy Ngô Xương Văn (con thứ hai của Ngô Quyền), không có con.
- Đời chồng thứ hai, thời kỳ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, đã lọt vào mắt bà. Đúng ra là Dương Tam Kha chủ động gả con gái Dương Thị Nga (lần thứ hai) cho Đinh Bộ Lĩnh vì nhìn thấy trước thế lực và triển vọng của Đinh Bộ Lĩnh. Vả lại, trước kia, bố Đinh Bộ Lĩnh (là Đinh Công Trứ) cũng là tướng của Dương Đình Nghệ (bố Dương Tam Kha). Hai nhà kết thông gia vừa môn đăng hộ đối, vừa có thế lực. Mặt khác, Đinh Bộ Lĩnh cũng muốn hòa hiếu, chứ không muốn đánh Ngô Nhật Khánh.
Sau này lên ngôi, Dương Thị Nga trở thành Hoàng hậu và đẻ ra Đinh Toàn. (Đời vợ trước của Đinh Bộ Lĩnh đẻ ra Đinh Liễn).
- Đời chồng thứ ba, lấy Lê Hoàn, vốn là tướng giỏi của Đinh Tiên Hoàng và được nhà vua thăng tới chức Thập đạo Tướng quân điện tiền đô chỉ huy sứ, nắm thực quyền quân lực trấn giữ kinh thành, trong khi, "bộ tứ" gắn bó với vua là Nguyễn Bặc, Đinh Điền chỉ giúp việc ngoại chính.
Dương Thị Nga phải tính nước cờ: Theo truyền thống, nếu Đinh Tiên Hoàng mất, ngôi báu ắt về tay Đinh Liễn. Trên thực tế, bà không mặn mà với Đinh Tiên Hoàng, vì Lê Hoàn mới là người vẹn toàn. Và mối tình sâu nặng ấy đã cho ra đời cậu bé Đinh Toàn (dù mang họ Đinh, nhưng là giọt máu của Lê Hoàn).
Màn kịch ấy lại được đạo diễn bởi Hồng Hiến (vốn là người phương Bắc làm gián điệp cho quân Tống, lại là quân sư tâm phúc cho Lê Hoàn. Và thế là âm mưu sát hại bố con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn của Lê Hoàn cùng Dương Thị Nga đã được thực hiện. Đinh Toàn (con của Dương Thị Nga với Lê Hoàn) mới 6 tuổi được lập làm vua, và tất nhiên Thái hậu Dương Thị Nga cùng Lê Hoàn nhiếp chính.
Như vậy, việc Lê Hoàn lấy quan hệ "tiền hôn nhân" để bước tiếp theo đạt mục đích chiếm đoạt ngai vàng đã rõ khi giặc Tống xâm lược nước ta vào tháng 3 năm 981 (khi thấy bố con Đinh Tiên Hoàng bị giết, triều đình lục đục, chia rẽ, "bộ tứ" tan rã, Nguyễn Bặc, Đinh Điền bị quy tội làm gián điệp cho giặc Tống, bị diệt...).
Đương nhiên, về quân sự, Lê Đại Hành (Lê Hoàn) quả là một tài năng phi thường, dùng binh như thần, đánh đâu thắng đó bảo vệ vững chắc nền độc lập quốc gia và do vậy, đã cứu được danh dự cho ông nhiều phần.
Tuy vậy, nói cho công bằng, thì cha con vua Đinh cũng tự gây họa cho mình mà không biết. Ấy là việc Đinh Tiên Hoàng yêu con thứ mà quên con trưởng (con thứ Đinh Liễn giết Hoàng Thái tử Hạng Lang), tức là cha con vua Đinh đã tạo nên sơ hở để từ đó người bên ngoài lợi dụng.
Thái sư Lê Văn Thịnh có mưu giết vua Lý Nhân Tông?
"Đại Việt sử ký toàn thư" viết rằng Lê Văn Thịnh làm phép hóa hổ, định hại vua Lý Nhân Tông ở hồ Dâm Đàm (tức Hồ Tây), dẫn tới việc Lê Văn Thịnh bị truất chức Thái sư và bị lưu đày tại Thao Giang (Phú Thọ ngày nay).
Trước hết, chúng ta cùng xem xét lại sự nghiệp của Nguyên phi Ỷ Lan, người trực tiếp gây ra án oan cho Thái sư Lê Văn Thịnh.
Trước khi được tuyển vào cung, tên bà là Lê Thị Mệnh, người làng Thổ Lỗi, tục gọi là làng Sủi, nay là thôn Thuận Quang, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Mùa xuân năm 1061, Lý Thánh Tông sang chùa Dâu để cầu tự, vì vua đã 39 tuổi mà chưa sinh con. Dân chúng đổ ra đón vua nhưng cô Mệnh khi ấy đang cắt cỏ, lại đứng tựa vào cây lan (vì thế sau này vua gọi là Ỷ Lan - dựa vào cây hoa lan), mà không ra xem vua.
Chính cái sự độc đáo không giống ai này khiến vua để ý. Vua cho vời cô gái cắt cỏ tới cật vấn, qua đó phát hiện ra một cô thôn nữ vừa xinh đẹp, vừa thông minh. Và thế là cô Mệnh lọt vào mắt xanh của nhà vua cùng với 11 cô gái quê khác.
Sự khác người ấy của cô Mệnh được thể hiện: ngoài sống với vua, thời gian còn lại rất nhiều, cô dành cho việc học làm hoàng hậu, học làm vua.
Thế là, năm 1069, khi đích thân Lý Thánh Tông cầm quân đi đánh Chiêm Thành, thì vua đã giao công việc triều chính cho Ỷ Lan "Lưu thủ kinh sư", trong vòng 5 tháng, chứ không giao việc cho quan Tể tướng Lý Đạo Thành hoặc các thân vương.
Việc đó hẳn nhà vua có con mắt tinh đời, song thực chất, từng bước Ỷ Lan muốn thể hiện tài năng, bản lĩnh trị quốc, bình thiên hạ khi mới 20 tuổi. Ỷ Lan đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tức là có công đầu trong việc huy động nhân tài vật lực đánh thắng quân Chiêm Thành.
Năm 1075, bà là người lãnh đạo cuộc Bắc phạt, khi phát hiện quân Tống đang tập trung lương thảo và chiến cụ ở châu Ung, châu Liêm và châu Khiêm chuẩn bị đánh Đại Việt.
Lúc này, vua Lý Nhân Tông (con bà) mới 9 tuổi, quan Thái sư Lý Đạo Thành đã ngoài 80 tuổi, lại theo phái chủ hòa, và đang bị Ỷ Lan đày đi trấn giữ Nghệ An; Lý Thường Kiệt và Tôn Đản thì cầm quân, nhưng Lý Thường Kiệt tuổi đã cao, mặc cảm về một ông quan "thái giám" còn nặng nề, thế nên, mọi quyền bính đều nằm trong tay Ỷ Lan.
Muốn bảo đảm cho cuộc Bắc phạt, và tiếp sau đó là chống quân Tống thành công, Ỷ Lan đã làm được 3 điều (ngoài quyết tâm chiến lược đúng đắn và táo bạo là đánh quân Tống ngay trên đất Tống):
Thứ nhất, nền cai trị vững chắc, bảo đảm an ninh hậu phương.
Thứ hai, tiếp tế lương thực, thực phẩm đầy đủ và kịp thời cho 10 vạn tinh binh và 40 vạn người phục vụ trong một cuộc hành quân bí mật, là cực kỳ tốn kém về sức người và sức của.
Thứ ba, huy động và lãnh đạo được một lực lượng quân và dân binh tham chiến cực lớn, biết dùng người và bổ sung nhân tài vật lực bảo đảm cho cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Tháng Giêng năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, Hoàng Thái tử Càn Đức (Ỷ Lan sinh được 2 con trai) 7 tuổi lên ngôi, tôn mẹ đẻ làm Hoàng Thái phi, tôn mẹ Thượng Dương làm Hoàng Thái hậu (bà vợ cả này không có con), cùng buông rèm nhiếp chính, Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc.
Nói là "cùng" nghe và giải quyết chính sự, nhưng thực chất quyền hành đều thâu tóm vào tay Ỷ Lan. Vì lợi thế là mẹ đẻ ra vua, Ỷ Lan đã vô hiệu hóa Hoàng Thái hậu, bằng cách bắt tạm giam "vợ cả vua cùng 76 thị nữ vào cung cấm, rồi bức chết chôn theo lăng Lý Thánh Tông”. Đó là tội "giết người hàng loạt" của Ỷ Lan.
Cùng trong đợt thanh trừng này, Thái sư Lý Đạo Thành bị hạ bệ từ quan Tể tướng (chức quan cao nhất trong triều đình) xuống làm Tổng trấn đi cai quản châu Nghệ An.
Chỉ sau đó 1 năm, nhận thấy Lý Đạo Thành rất mực trung thành với Hoàng gia, qua việc thờ cúng Lý Thánh Tông, nên Ỷ Lan theo ý con, mới thăng lại chức Thái phó cho ông, và mời ông về Kinh đô giúp nội trị, khi quân ta Bắc phạt.
Về Lý Thường Kiệt cũng vậy. Ỷ Lan biết rõ tài năng, đức độ và uy tín của Lý Thường Kiệt, nhưng không chia sẻ quyền lực, mà chỉ triệt để sử dụng ông là một vị tướng, trận mạc nối tiếp trận mạc cho tới lúc già vẫn phải cầm quân đi bình Chiêm, đánh Tống chiến công lừng lẫy, cũng chỉ phong Thái úy (đứng đầu hàng võ) chứ không phong Thái sư hay Tể tướng.
Về Lê Văn Thịnh, đỗ đầu khoa thi Minh tinh bác học (lúc đó chưa có trạng nguyên), do Ỷ Lan mở theo đề nghị của Lý Thường Kiệt (bà mở được 2 khóa thi: Minh tinh bác học và Nho học tam trường). Sau đó, Lê Văn Thịnh được cử vào dạy Lý Nhân Tông học hành từ nhỏ cho đến khi trưởng thành.
Năm 1084, ông là Thị lang Bộ Binh đi đàm phán với người Tống về biên giới thắng lợi: Nhà Tống phải trả lại châu Quảng Uyên (phần lớn phía Bắc, Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh bây giờ) bị chiếm trong chiến tranh từ năm 1076.
Năm 1085, khi Ỷ Lan thôi nhiếp chính vì tuổi tác và mải mê đi lo việc tiếp tục xây cất chùa và lễ chùa, Lê Văn Thịnh mới được thăng chức Thái sư trông coi công việc triều chính.
Ông là nhà nho tiết tháo, nên không thể không can ngăn Ỷ Lan xâm phạm nhiều quốc khố trong việc dựng trên 100 ngôi chùa để sám hối tội giết Hoàng Thái hậu và 76 cung nữ. Vì thế, bà thù ghét và thanh trừng không thương tiếc bất cứ ai cản trở công việc phát tâm công đức của bà, mà kẻ thù chính là quan đầu triều Lê Văn Thịnh.
Ỷ Lan lập mưu vu cho Lê Văn Thịnh đội lốt hổ giết vua trên hồ Dâm Đàm và cái chết của Lê Văn Thịnh là kết quả của cuộc chiến giữa Nho giáo (người đại diện là Thái sư Lê Văn Thịnh) và Phật giáo (đại diện là Nguyên phi Ỷ Lan đang nắm giữ vương quyền).
(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn "Nhìn lại lịch sử" của các nhà sử học Phan Duy Kha, Lã Duy Lan và Đinh Công Vĩ, NXB VH-TT, 2003)
Theo Lê Trung Đản – Lịch sử Việt Nam

Monday, June 23, 2014

Góp phần tìm hiểu sự thật về giáo sư Nguyễn Lân (5)


2. Sự trái ngược giữa lời dạy và việc làm của nhà giáo Nguyễn Lân
Tại trang 64 – 65 trong quyển Người thầy giáo xã hội chủ nghĩa (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960), nhà giáo Nguyễn Lân đã viết:
Người thầy giáo xã hội chủ nghĩa chỉ học tập chủ nghĩa Mác-Lênin không, không đủ! Công việc chính của người thầy giáo là giảng dạy, là vũ trang cho học sinh những tri thức khoa học tiên tiến nhất, để hình thành ở họ thế giới quan khoa học, để, trên cơ sở những tri thức đó, xây dựng cho họ những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho đời sống. Vậy, dạy môn nào, người thầy giáo xã hội chủ nghĩa phải nắm vững bộ môn ấy. Nếu dạy một không thể biết mười thì ít nhất người thầy giáo cũng phải biết hai, ba chứ dạy bài nào mà chỉ biết bài ấy thì thực là nguy hiểm, vì không những chẳng giải đáp được thắc mắc của học sinh mà lại còn dễ dàng nói sai sự thật và phản lại khoa học. Ta nên nhớ rằng mỗi lời thầy giáo nói ra là bốn, năm chục học sinh chú ý nghe; thầy dạy một điều sai là bốn năm chục bộ óc bị đầu độc; như thế thì không những đã chẳng dạy được gì thêm, lại còn khiến học sinh có những khái niệm không đúng cần phải gột rửa đi nữa.
Ngoài bộ môn mình phụ trách, người thầy giáo xã hội chủ nghĩa còn phải nắm được các bộ môn khác nữa: tối thiểu, trình độ văn hóa phổ thông của người thầy giáo, về mọi ngành tri thức, phải không được thấp hơn trình độ học sinh ở cấp mình giảng dạy. Thí dụ, một giáo viên về Việt văn ở lớp tám ít ra cũng phải nắm được những bộ môn khoa học tự nhiên của cấp III; có như thế thì khi giảng dạy Việt văn mới có thể đưa ra những dẫn chứng cụ thể.
Hơn nữa, người thầy giáo xã hội chủ nghĩa lại còn phải tìm hiểu những phát minh mới nhất của nhân loại, còn phải tìm đọc những tác phẩm hay nhất mới xuất bản. Thí dụ; một giáo sư về sử học không thể ỷ vào môn học của mình dạy mà chẳng biết gì đến năng lượng nguyên tử, đến vệ tinh nhân tạo, đến tên lửa vũ trụ; một giáo sư về toán học không thể chẳng biết gì đến quyển tiểu thuyết hay nhất trong nước hay là ở các nước bạn.
Cho nên vai trò của người thầy giáo trong nhà trường và trong xã hội đòi hỏi một vốn tri thức càng ngày càng phong phú hơn, càng ngày càng mới hơn.
Thật là những lời vàng ngọc. Nếu mọi thầy giáo đặt cho mình nhiệm vụ luôn luôn học hỏi để nâng cao kiến thức nhằm phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy như lời của nhà giáo Nguyễn Lân thì chất lượng giáo dục trong nhà trường hẳn là không thể chê vào đâu được. Có lẽ ngoài nhà giáo Nguyễn Lân thì chẳng thầy giáo nào nghĩ được, viết được và dám viết những lời như thế.
Nhưng, mọi người phải thất vọng biết bao khi đọc những định nghĩa hay những lời chú giải ở nhiều từ ngữ thuộc các bộ môn toán học, vật lý học, hóa học, sinh vật học, lịch sử ... trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của ông. Xin nêu một số chứng cứ trên “giấy trắng mực đen”. Ở mỗi từ, câu định nghĩa của nhà giáo Nguyễn Lân sẽ được gạch dưới, và câu ví dụ của ông sẽ được ghi bằng chữ nghiêng. Tiếp đó là nhận xét của người viết bài này.
● Ấu trùng = Œ Động vật nhỏ ở thời kỳ mới sinh Ấu trùng của chuồn chuồn;  tt Mới đẻ. Rằng con đương độ ấu trùng, xa xôi non nước lạ lùng biết sao. (Trê cóc). Không phải động vật nhỏ nào cũng sinh ra ấu trùng. Định nghĩa như vậy thì quá mù mờ và dẫn đến sự hiểu sai.  Ít nhất cũng phải nêu được mấy ý như sau: Ấu trùng là dạng tự do mới ra khỏi trứng của một số động vật cấp thấp như côn trùng, ếch nhái, và phải trải qua thời kỳ biến thái mới đạt đến dạng trưởng thành. Ấu trùng bao giờ cũng chỉ là danh từ, không phải là tính từ với nghĩa là mới đẻ . Cái trứng cóc đã nở ra ấu trùng cóc đấy thôi.
● Ðịa Trung Hải = Biển ở giữa lục địa. Biển Ca-xpiên là một địa trung hải. Đành rằng, Địa Trung Hải nghĩa là biển ở trong lục địa, nhưng nhóm từ này đã trở thành tên riêng để chỉ một biển có diện tích 25 triệu kilomet vuông, nằm ở phía nam Châu Âu, phía bắc Châu Phi, phía tây Châu Á, thông với Ðại Tây Dương qua eo biển Gibraltar và thông với Biển Ðỏ qua kênh đào Suez. Soạn giả đã không nói đến Ðịa Trung Hải với tư cách một địa danh rất quan trọng trên bản đồ thế giới, mà đã biến danh từ riêng này thành một danh từ chung, với nghĩa là cái hồ lớn!
● Đô hộ = Thống trị và áp bức bóc lột. Trong gần một trăm năm, nước ta ở dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Không đúng. Trong từ này, theo từ điển Từ hải, đô 都 nghĩa là toàn bộ; hộ 護 nghĩa là bảo vệ, là trông nom. Theo từ điển Từ hải, đô hộ nghĩa là tổng giám, tức là giám sát toàn bộ chứ không hề có nghĩa là áp bức bóc lột. Đó là tên một chức quan. Hán Tuyên Đế (ở ngôi từ 74 đến năm 49 TCN) thiết lập chức Tây vực Đô hộ, là chức trưởng quan cao nhất ở vùng Tây vực. Nhà Đường đặt các chức An Đông đô hộ, An Tây đô hộ, An Bắc đô hộ, và An Nam đô hộ, là viên quan cao nhất thống trị nước ta. Do đó, trong tiếng Việt, từ đô hộ được hiểu là thống trị. Nhưng, là người biên soạn từ điển từng nhấn mạnh việc "chú giải từ tố” và "giải thích từ nguyên" thì không thể giải thích tùy tiện.
● Đồng điếu dt = Đồng nguyên chất màu đỏ. Tiếc thay hạt gạo tám xoan, thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà (cd). Không đúng. Đồng điếu là một hợp kim tự nhiên của đồng, mà thành phần phối hợp quan trọng nhất là thiếc, và có thể có nhiều nguyên tố khác nhưng không có kẽm. Gọi là hợp kim tự nhiên là vì thành phần của nó được quyết định bởi kinh nghiệm pha trộn loại quặng chứa đồng và loại quặng chứa thiếc, còn các thành phần khác thì người ta không thể biết và không thể điều chỉnh được. Đây là một trong hai dạng hợp kim của đồng được sử dụng rộng rãi trong đời sống từ xa xưa đến ngày nay, có đặc điểm là cứng và dễ đúc. Dạng hợp kim kia gọi là đồng thau thì không chứa thiếc mà lại chứa kẽm, có đặc tính là dễ dát mỏng vì mềm dẻo, thường dùng để làm chậu, làm mâm nhưng không thể đúc được vì khi nung chảy thì rất quánh, rất khó chảy vào các ngóc ngách của khuôn đúc. Câu ca dao mà ông Nguyễn Lân nêu ra cũng cho thấy rằng, đồng điếu là một sản phẩm mà dân gian đã sử dụng từ lâu, khi mà người ta chưa hề có các khái niệm về hỗn hợp và hóa hợp, về đơn chất, hợp chất, về các nguyên tố, v.v.. khi mà trình độ luyện kim còn hết sức thô sơ, làm sao có thể nghĩ đến cái gì nguyên chất hay không nguyên chất. Từ khi biết sử dụng phương pháp điện phân (cuối thé kỷ 19, ở Pháp), các nhà bác học mới biết cách tinh luyện đồng tương đối nguyên chất. Ở Việt Nam hiện nay (đầu thế kỷ 21) vẫn chưa có nơi nào tinh chế được đồng nguyên chất (may ra chỉ có mô hình trong phòng thí nghiệm). Định nghĩa do nhà giáo Nguyễn Lân đưa ra là hoàn toàn sai, nhưng điều đáng buồn hơn là, nó chứng tỏ rằng, ngưởi đưa ra định nghĩa đó thiếu hẳn sự hiểu biết về lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại.
● Giám quốc = Từ cũ chỉ tổng thống một nước cộng hòa tư sản. Hồi đó Clémenceau mật chức giám quốc nước Pháp. Định nghĩa này rất sai và chứng tỏ rằng soạn giả vừa kém tiếng Việt vừa kém hiểu biết về lịch sử. Cứ dựa theo các từ tố (giám = trông coi ; quốc = nước, quốc gia) thì cũng đủ hiểu rằng, Giám quốc là người cầm quyền ở một nước quân chủ thay nhà vua (khi vua vắng mặt). Từ điển Từ nguyên của Trung Quốc đã nêu định nghĩa như thế. Cũng có trường hợp, vua mới lên ngôi còn quá nhỏ thì Hoàng tộc cũng chọn một người làm giám quốc. Ví dụ, năm 1908, Phổ Nghi lên ngôi vua nhà Thanh khi mới hai tuổi, Hoàng tộc đã cử cha của ông ta là Tải Thuần làm giám quốc. Ở nước ta cũng đã từng có chức giám quốc. Cuối năm 1787, Vũ Văn Nhậm theo lệnh của Nguyễn Huệ ra bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh rồi lập Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận (con vua Lê Hiển Tông, chú của Lê Chiêu Thống) làm giám quốc vì Lê Chiêu Thống đã chạy khỏi kinh thành để cầu viện quân Thanh. Khi Nguyễn Huệ ra bắc giết Vũ Văn Nhậm, ông vẫn để Lê Duy Cận làm giám quốc. Trước đây, từng có người gọi tổng thống nước Pháp là giám quốc vì họ chưa biết từ tổng thống. Trong Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, soạn giả Nguyễn Lân còn viết rằng, Ngày nay người ta dùng từ tổng thống để thay từ giám quốc. Thử hỏi, có thể gọi Tải Thuần hay Lê Duy Cận là tổng thống hay không?
● Ngọc tỉ = Ấn của nhà vua. Bảo Đại đã giao ngọc tỉ cho đại diện của chính phủ cách mạng, khi tuyên bố thoái vị. Soạn giả Nguyễn Lân chú giải: tỉ = cái ấn. Nếu thế thì ngọc tỉ là cái ấn bằng ngọc, dù là của ai cũng vậy chứ không phải chỉ của nhà vua. Theo từ điển Từ nguyên thì từ thời Tần – Hán về sau, chỉ riêng cái ấn của Hoàng đế mới gọi là tỉ 璽, và ngọc tỉ nghĩa là Hoàng đế chi ngọc ấn, tức là ấn bằng ngọc của hoàng đế. Đã là từ điển, lại có chú giải từ tố thì phải chính xác, nên phải giải thích: tỉ là cái ấn của Hoàng đế, ngọc tỉ là cái ấn bằng ngọc của Hoàng đế. Trong lịch sử Việt Nam chưa thấy ở đâu nói đến ngọc tỉ. Hoàng đế Bảo Đại chỉ có cái ấn bằng vàng, không hề có ấn ngọc, sao ông có thể giao ngọc tỉ cho đại diện của chính phủ cách mạng.
● Nhãn áp = Áp suất của máu ở mắt. Sai hết sức nghiêm trọng. Nhãn áp là áp suất trong nhãn cầu, Nên nhớ rằng, nhãn cầu (ocular bulb, globe oculaire) không chứa máu mà chứa một chất lỏng trong suốt, cho nên cũng có thể nói: Nhãn áp là áp suất của chất lỏng trong nhãn cầu.
● Nhiệt hạch dt = nhiệt phát ra từ sự phá hủy hạt nhân nguyên tử. Nhiệt hạch là một nguồn năng lượng rất lớn. Sai nghiêm trọng! Nhiệt hạch là một từ được sử dụng ở Trung Quốc và Việt Nam để dịch từ thermonuclear trong tiếng Anh hoặc thermonucléaire trong tiếng Pháp, nghĩa là liên quan với quá trình kết hợp hạt nhân của các nguyên tố nhẹ ở nhiệt độ rất cao. Đó là một tính từ (chứ không phải là danh từ như ông Nguyễn Lân đã dạy) để tạo thành các từ phức hợp như năng lượng nhiệt hạch, vũ khí nhiệt hạch, chiến tranh nhiệt hạch, v.v.
● Phức số = Số tính không theo hệ thập phân. Số giờ tính ra phút là một phức số. Sai hoàn toàn. (Sai như thế nào, xin mời quý vị xem ở từ Số phức ở dưới đây. Phức số cũng chính là Số phức. Các từ tố phức vá số tuy cố nguồn gốc từ Hán ngữ nhưng đã Việt hóa hoàn toàn nên chúng có thể ghép với nhau theo trật tự của Việt ngữ thì thành ra từ số phức, nếu theo trật tự của Hán ngữ thì thành ra từ phức số). Số đếm không theo hệ thập phân có thể là số nhị phân, số tam phân, v.v., cách gọi tên phụ thuộc vào cơ số của hệ đếm, tùy từng trường hợp. Số đếm giờ, phút và giây được tính theo hệ lục thập phân.
● Số phức = Tổng của một số thực và một số ảo. 6 giờ 20 phút 12 giây là một số phức. Câu định nghĩa tuy không sai nhưng chưa đầy đủ và không chặt chẽ. Phải định nghĩa như sau: Số phức (hay phức số) là một số có dạng X = A + Bi, trong đó, A và B là những số thực, i gọi là đơn vị ảo; i2 = - 1. Còn câu ví dụ thì sai hoàn toàn và không liên quan gì với câu định nghĩa. Điều đó chứng tỏ rằng soạn giả chỉ biết nhặt nhạnh sao chép của người khác mà không hiểu gì cả. Bởi vậy, tuy từ phức số cũng là một cách gọi khác của từ số phức nhưng lại được soạn giả gán cho một định nghĩa và một ví dụ khác hẳn.
● Số thực = Số dương hoặc số âm biểu thị bằng một số thập phân vô hạn. Số hữu tỉ hay số vô tỉ đều là số thực. Vậy thì các số nguyên không phải là số thực hay sao? Định nghĩa như thế không đúng, mà phải nói rằng: Số thực là tên gọi chung của tất cả các số hữu tỉ và số vô tỉ, phân biệt với số ảo. Một điều đáng chú ý là, trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam, soạn giả Nguyễn Lân nói đến số hữu tỉ, số vô tỉ, số thực, số phức nhưng không nhắc đến số ảo. Vì sao? Vì ông không hiểu gì về các loại số trong toán học.
● Số vô tỉ = Số không thể biểu diễn được dưới dạng một số nguyên hay một phân số. a2 là một số vô tỉ. Định nghĩa về số vô tỉ như thế thì không sai nhưng ví dụ thì chẳng liên quan gì với định nghĩa, và sai hoàn toàn, chứng tỏ soạn giả chỉ biết sao chép mà hoàn toàn không hiểu gì cả. Số vô tỉ là số mà nếu viết dưới dạng phân số thập phân thì sẽ là một số vô hạn không tuần hoàn, ví dụ: √2 = 1, 414 213562373095.....; số pi:  π = 3,14159 26535 89793 23846..., là những số vô tỷ.
● Thạch anh (thạch: đá; anh; tốt đẹp) = khoáng chất dạng kết tinh, trông óng ánh. Vách hang lấp lánh như thạch anh. Định nghĩa như vậy quá mơ hồ, không nêu được những tính chất đặc trưng của thạch anh để phân biệt với các khoáng vật khác. Câu ví dụ cũng rất gượng ép. Có thể định nghĩa ngắn gọn như sau: thạch anh = dạng kết tinh phổ biến của oxid silic SiO2, trong suốt, không màu hoặc có các màu nhạt, rất cứng và giòn, là thành phần cấu tạo chủ yếu của các loại đá kết tinh (như đá hoa cương...), của một số đá trầm tích (như sa thạch...) và của đa số các loại cát.
● Thạch tín (thạch: đá; tín: tin) = Hợp chất của a-xen chứa nhiều chất độc. Thạch tín thường được goi là nhân ngôn. Định nghĩa này không ổn. Trước hết, đây là một khoáng vật, dạng bột. Nó là một chất độc chứ không phải chứa nhiều chất độc. Nếu chú giải rằng, thạch nghĩa là đá, tín nghĩa là tin, rồi coi đó là việc giải thích từ nguyên thì thật là chướng, bởi vì như vây thì hai từ tố đó chẳng nói lên điều gì cả, thà đừng cắt nghĩa các từ tố còn hơn. Trong Hán ngữ không có từ thạch tín mà chỉ có từ tín thạch. Tín thạch 信石 là một khoáng vật dạng bột, màu trắng, không có mùi, có công thức là As2O3, tức là trioxid arsenic, rất độc, có thể làm chết người. Gọi là tín thạch vì nó được tìm thấy ở Tín Châu, thuộc tỉnh Giang Tây ở Trung Quốc, được sử dụng trong Đông y để điều trị ung nhọt, viêm loét, chữa các chứng cam tẩu mã, hen suyễn..., thường gọi tắt là tín 信. Chữ tín 信 vốn được cấu tạo từ chữ nhân 亻(biến thể của chữ 人, nghĩa là người) và chữ ngôn 言nghĩa là lời nói. Nhân ngôn nghĩa là lời bàn tán của người đời (nhiều khi không đúng sự thật và rất nguy hiểm). Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: Nhân ngôn khả úy, nghía là lời bàn tán của người đời rất đáng sợ (không kém gì tín thạch, tuy có tác dụng chữa bệnh nhưng có thể làm chết người). Vì vậy, người Trung Quốc đã “chơi chữ”, gọi tín thạch là nhân ngôn. Về từ này, trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam, soạn giả Nguyễn Lân viết: nhân ngôn = Một thứ thuốc độc màu vàng. Nhân ngôn cũng có tên là thạch tín. Định nghĩa như vậy thì quá mơ hồ. Nếu soạn giả có kiến thức vững vàng thì phải viết: Nhân ngôn = lời bàn tán (hoặc dư luận) của người đời, tuy cần tham khảo nhưng nhiều khi khác xa sự thật, phải thận trọng Từ nhân ngôn còn được dùng để chỉ chất tín thạch (mà ở nước ta quen gọi là thạch tín).
● Vi điện tử dt (H. vi: nhỏ bé; điện: điện; tử: hạt) = Hạt điện tử cực nhỏ. Hoàn toàn sai. Không có hạt nào có tên là vi điện tử. Điện tử, hay electron là một hạt cơ bản mang điện tích âm, có khối lượng  m = 9,10938291(40)×10−28 g, mang điện tích e = −1.602176565(35)×10−19 C. Mọi điện tử đều có khối lượng như nhau và điện tích như nhau. Thuật ngữ vi điện tử không phải là một danh từ (như soạn giả đã ngộ nhận), mà là một tính từ, tương ứng với từ microelectronic trong tiếng Anh hoặc từ microélectronique trong tiếng Pháp, thể hiện mối liên quan đến việc chế tạo hay lắp ghép các linh kiện điện tử rất nhỏ. Ví dụ: mạch vi điện tử, thiết bị  vi điện tử.
Những thí dụ trên đây chứng tỏ rằng, kiến thức của nhà giáo Nguyễn Lân về mọi lĩnh vực khoa học thường thức chưa đạt đến trình độ trung học, hoàn toàn trái ngược với đòi hỏi của ông đối với một giảng viên đại học.
3. Biết khuyên răn dạy dỗ người khác nhưng không biết nhìn lại mình.
Nếu người thầy giáo thuyết giảng cho học sinh những điều mà chính mình cũng chưa hiểu thì thật là nguy hại, Phải nói rằng, người đó không đủ tư cách làm thầy giáo, không phải là người đứng đắn tử tế mà chỉ là kẻ hợm hĩnh liều lĩnh vô trách nhiệm, thậm chí, chỉ là một kẻ lừa đảo. Nhà giáo Nguyễn Lân biết rõ điều đó nên ông luôn luôn căn dặn con cái phải tránh thói xấu ấy.
Trong bải Bữa cơm trưa ở nhà mình, cô giáo Trần Thảo Nguyên (giảng viên Học viện Ngân hàng, là con dâu của ông) đã kể lại lời dạy của nhà giáo Nguyễn Lân đối với cô: "Con làm cô giáo thì phải nhớ là dù một chữ chưa hiểu cũng phải đọc, phải hỏi cho thật hiểu mới được dạy cho học trò, óc trẻ con như trang giấy trắng, con vẽ sai lên đó làm sao tẩy sạch được. Rồi ba giảng giải, muốn tìm hiểu một vấn đề gì thì phải hiểu cả lịch sử, cả hoàn cảnh cụ thể của nó." (trong sách Vinh quang nghề thầy, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, trang 382).
Lời khuyên răn của nhà giáo Nguyễn Lân hoàn toàn đúng đối với tất cả những ai muốn trở thành con người có tri thức và có đạo đức chứ không phải chỉ riêng đối với người dạy học.
PGS TS Nguyễn Lân Cường kể lại:
Cách đây 9 năm (so với năm 2004 – TG chú), tôi được bầu làm Chủ tịch Công đoàn của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia – nơi có hơn 1300 cán bộ công tác thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội. Vừa mừng, vừa phấn khởi vì lần đầu tiên trong đời được đảm nhận một công tác xã hội khá lớn nên vội về nhà khoe với cụ. Ba tôi nói: “Cái khó nhất trong cách đối xử ở đời là biết mình đang ở vị trí nào. Con đừng quên rằng, một người giỏi lắm thì cũng đi sâu được một hai chuyên môn. Vì vậy, phải luôn coi người khác là thầy của mình về những chuyên ngành khác.” Lời căn dặn ấy của Ba tôi luôn là lời nhắc nhở anh em chúng tôi, nhưng không phải dễ gì thực hiện được lời cụ dạy. (Vinh quang nghề thầy, trang 369, trong bài Xin gắng theo được một phần của Ba)
Phải chăng, khi nói những lời trên đây, nhà giáo Nguyễn Lân đã nghĩ đến lời dạy của Khổng từ đối với Tử Lộ mà có lẽ hồi trước ông đã từng nghe: ‘Biết cái gì thì nhận là biết, không biết cái gì thì nhận là không biết, như thế là biết vậy”. (知之為知之,不知為不知,是知也。Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã”) Những lời răn dạy của ông đối với con cái có thể quy thành nguyên tắc: Không được dạy những điều mà mình chưa hiểu rõ; muốn vậy thì phải biết rõ phạm vi kiến thức của mình. Trong cuộc đời dạy học, hẳn là ông đã nhiều lần dạy bảo các thế hệ học trò những điều này.
Nhìn lại những quyển từ điển do nhà giáo Nguyễn Lân biên soạn, người ta thấy rằng ông đã lên giọng giảng giải vô số điều mà ông không hiểu. Hiện tại chưa thể biết là ông đã giảng sai bao nhiêu từ ngữ tiếng Việt, nhưng chắc chắn rằng con số đó lớn gấp nhiều lần so với những gì đã được một số tác giả vạch ra và công bố trên báo chí. Số lượng sai lầm nhiều không thể kể hết. Trong bài Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt (xin lưu ý, trên mạng Internet hiện nay có hai bài mang tiêu đề này, ở đây muốn nói đến bài dài hơn 50000 chữ chứ không phải bài ngắn chừng 5000 chữ), tác giả đã vạch ra 200 từ ngữ bị giảng sai, nhưng đó chỉ mới là một phần nhỏ trong rất nhiều từ ngữ bị giảng sai ở cuốn Từ điển từ và ngữ Hán - Việt, nghĩa là một phần nhỏ ở những từ ngữ có gốc Hán mà thôi. Trong một từ, nhiều khi soạn giả Nguyễn Lân đã phạm hai hoặc ba, bốn sai lầm: sai lầm ở việc giảng nghĩa của từ, sai lầm khi chú giải các từ tố, sai lầm ở ví dụ minh họa, v.v. Ngay ở 200 từ ngữ bị giảng sai mà bài Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt đã vạch ra thì số sai lầm không phải chỉ là 200. Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2111 trang, có dung lượng gấp 2,5 lần so với Từ điển từ và ngữ Hán – Việt), số sai lầm có thể lên đến hàng ngàn, bởi vì ông còn giảng sai vô số từ và thành ngữ được coi là “thuần Việt” (không có gốc Hán). Các cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt – Pháp của Nguyễn Lân đều chứa vô số sai lầm mà các tác giả Huệ Thiên và Nguyễn Văn Điện đã vạch ra. Nếu ai đó muốn viết một luận văn về hiện tượng hiểu sai và giảng nghĩa sai tiếng Việt thì Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân là một nguồn dữ liệu rất phong phú vì nó cho thấy quá nhiều sai lầm đủ các chủng loại, thể hiện trên “giấy trắng mực đen”. Trong số 5 cuốn từ điển do ồng Nguyễn Lân biên soạn một mình (đó là: Œ Từ điển từ và ngữ Việt Nam,  Từ điển từ và ngữ Hán - Việt, Ž Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam,  Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việ t- Pháp,  Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp – Việt) thì các quyển Œ  Ž đã bị Huệ Thiên và Lê Mạnh Chiến phê phán từ lâu mà không ai có thể phản bác, và gần đây lại có thêm hàng loạt bài phê phán rất đáng chú ý của Hoàng Tuấn Công. Quyển  cũng chứa rất nhiều sai lầm và đã bị ông Nguyễn Văn Điện phê phán trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 1(66)/2008 trong bài Về cuốn Từ điển của Nguyễn Lân.  Chỉ riêng cuốn  là chưa có bài phê phán nhưng thực tế đã cho thấy rằng nhà giáo Nguyễn Lân vốn rất yếu kém về tiếng Việt nên chắc chắn rằng quyển Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp – Việt ấy cũng không thể tránh khỏi vô số sai lầm, chẳng cần phải xem xét nữa.
Về lý thuyết, nhà giáo Nguyễn Lân đã khuyên răn con mình và dạy học trò hai điều rất hệ trọng, rất đúng đắn. Nhưng trong việc làm cụ thể, chính ông đã phản lại những lời dạy của mình. Đó là vì ông đã không có năng lực tra cứu, chỉ nhặt nhạnh kiến thức trên sách báo một cách không có hệ thống, nhưng lại nghĩ rằng mình đã quá giỏi, đủ sức để dạy dỗ mọi người, do không nắm được những tri thức phổ thông cơ bản nhất. Ông đã hăm hở “chú giải từ tố” và “giải thích từ nguyên” ở những từ ngữ có gốc Hán, mà muốn thực hiện điều đó thì phải tra cứu được các bộ đại từ điển Hán ngữ, mà phải tra cứu rất nhiều sách, nhưng trước hết là phải nắm rất vững những tri thức cơ bản ở mức cao hơn hẳn bậc trung học. Hình như ông không nghĩ đến điều đó, và ông cũng không biết rằng, kiến thức của ông về mọi phương diện, về toán học, vật lý học, hóa học, sinh vật học, lịch sử, địa lý... đều chưa đạt ngưỡng trung học. Những ví dụ vừa nêu trên đây đã chứng tỏ điều đó. Tuy ông đọc được tiếng Pháp nhưng không sử dụng được các từ điển của Pháp vào việc biên soạn từ điển tiếng Việt. Không phải ông chỉ bế tắc về thuật ngữ khoa học trong tiếng Pháp, mà chủ yếu là bế tắc ngay ở tri thức phổ thông về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, thường thức. Khi đã không hiểu được các khái niệm khoa học thì dẫu đọc bằng tiếng Việt cũng chẳng hiểu, huống chi là đọc tiếng Pháp. Những thí dụ về nhiều sai lầm của ông mà quý vị độc giả đã thấy trong bài này đã quá đủ để khẳng định điều đó. Nếu sử dụng được từ điển của Pháp thì một loạt thuật ngữ khoa học tự nhiên trên đây sẽ được định nghĩa một cách dễ dàng. Không đọc được chữ Hán mà lại dám nhận lấy việc “chú giải từ tố” và “giải thích từ nguyên” của các từ ngữ gốc Hán thì thật là quá liều lĩnh. Việc này còn khó khăn và phức tạp hơn việc đọc tiếng Pháp rất nhiều. Cứ nhìn vào việc giải thích từ nguyên của các từ viên môn hay thạch tín trên kia thì đủ thấy rằng, cái việc “giải thích từ nguyên” và “chú giải từ tố” của các từ ngữ gốc Hán chẳng dễ chút nào.
Không phải ông chỉ phạm sai lầm ở những từ ngữ gốc Hán mà thôi. Vô số từ được coi là “thuần Việt” cũng bị ông giảng sai, rất nhiều thành ngữ, tục ngữ cũng bị ông giảng sai. Độc giả nào muốn kiểm chứng, hãy đọc các bài Đọc lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân và  Những chỗ sai khó ngờ trong “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân (của Huệ Thiên) hay các bài gần đây của Hoàng Tuấn Công (Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân, mục chữ cái nào cũng có sai sót; Những sai lầm mang tính hệ thống trong “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân; Thử lý giải những sai sót để đời của Nhà biên soạn từ điển – GS Nguyễn Lân, và v.v.) thì sẽ thấy vố số sai lầm thật khó tưởng tượng. Tất cả các bài này đều rất dễ tìm trên mạng Internet.
Nhà giáo Nguyễn Lân đã nhầm to khi “dấn thân” vào lĩnh vực từ điển. Trong lĩnh vực này, ông thực sự là người yếu kém nhất, với những lỗ hổng kiến thức không thể khắc phục.
3. Lời giảng sai vẫn được ca ngợi là “nhất tự thiên kim”
Trong hơn 100 bài ca ngợi tài đức tuyệt vời vô song của nhà giáo Nguyễn Lân được đăng tải trong cuốn sách Vinh quang nghề thầy cùng hai tập Kỷ yếu Hội thảo GS NGND Nguyễn Lân với sự nghiệp trồng người (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) và Kỷ yếu Hội thảo NGND GS Nguyễn Lân - cuộc đời và sự nghiệp (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013), hầu như tất cả mọi bài đều lặp đi lặp lại một số ý kiến dựa trên cảm tính, thiếu hẳn những dẫn chứng cụ thể đáng tin cậy và có sức thuyết phục. Chỉ có vài đoạn có vẻ như đã đưa ra được dẫn chứng về công lao và trí tuệ kiệt xuất của nhà giáo Nguyễn Lân. Thứ nhất là đoạn nói về Từ điển từ và ngữ Việt Nam trong bài Nguyễn Lân và “mùa thu vàng” sáng tạo của nhà báo Hàm Châu mà độc giả đã biết. Thứ hai là câu chuyện sau đây trong bài Giáo sư Nguyễn Lân – Nhà sử học thân yêu của chúng ta (trong Ký yếu Hội thảo NGND GS Nguyễn Lân, cuộc đời và sự nghiệp)
Tác giả bài ấy là một PGS TS đã kể:
Ngày ấy, vào những năm 60 của thế kỷ trước, sau khi có được cuốn sách nhỏ Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX (viết chung với Đặng Huy Vận, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1962), đem đến kính biếu Thầy, gọi là quả bói đầu mùa – công trình khoa học của người học trò đã được Thầy gợi ý và chỉ bảo tận tình. Sau khi đọc xong, Thầy đã viết thư cảm ơn (một lần nữa) và đề nghị chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu “nhà cách tân lỗi lạc và yêu nước nhiệt thành”này. Rồi mấy năm sau, khi có dịp trở lại quê hương Nguyễn Trường Tộ, đến thắp hương nơi khu mộ của ông (khu mộ mà chính thầy đã xuất tiền ra xây nên từ năm 1942), tôi thấy ở đôi câu đối khắc bên mộ, lâu ngày có một chữ Hán ở về bên trái bị lở sứt, có thể đọc lầm lẫn là chữ cơ hoặc thân:
Nhất thất túc thành thiên cổ hận
Tái đầu hồi thị bách niên cơ (thân)
(Một lần sẩy chân ân hận (đến) ngàn đời / Quay đầu trở lại, cơ đồ (đã) trăm năm.)
hoặc:   Một lần sẩy chân ngàn năm ân hận /  Quay đầu lại đã trăm năm thân mình.
Kể ra, “thân” với “cơ” đều có nghĩa (hợp lý), vì thế, có nhiều người đã nói chữ sứt lở đó là chữ thân (và ngay đến giờ đây, trong tập sach Vinh quang nghề thầy, anh bạn Trường Phước vẫn viết là thân).
Nhưng tôi nghĩ chữ thân có lẽ không thỏa đáng, đến hỏi Thầy và đã được Thầy giảng giải cho thật cặn kẽ cả nghĩa gốc của chữ cơ: cơ là nền, là gốc... và nghĩa dẫn thân cơ là cơ đồ, là sự nghiệp, là vận mệnh của cả một vương triều v.v... Vế trên của câu đối là hận (ân hận - từ chỉ sự trừu tượng, thì vế dưới đối lại phải là một từ có tính chất cũng trừu tượng, cho nên dùng chữ cơ (cơ đồ) là chuẩn xác và hợp lý hơn là từ thân (thân thể). Rõ là đầy sức thuyết phục. Tôi nhớ mãi câu nói cảm ơn của tôi khi đó:Thưa thầy! Đúng là “Nhất tự thiên kim” vậy. 
Trước hết, hai câu này không phải là hai câu đối, mà phải coi là một lời than thở hay một sự đúc kết kinh nghiệm ở đời, là những câu ở cuối một bài thơ. Cái chữ bị sứt ấy, phải là chữ thân.
Nhất thất túc thành thiên cổ hận. Tái hồi đầu, thị bách niên thân. Nghĩa là: Một lần sẩy chân (= một lần cẩu thả, một lần hẫng hụt, một lần sa ngã) thì ôm hận mãi mãi. Ngoái đầu nhìn lại thì mình chỉ còn cái thân già yếu. Rất đúng với tâm tư của người có hoài bão lớn nhưng “lỡ thời”.
Nếu thay chữ thân bằng chữ cơ, nghĩa là cơ nghiệp, là sự nghiệp, thì sẽ có:
Nhất thất túc thành thiên cổ hận. Tái hồi đầu thị bách niên cơ. Nghĩa là: Một lần sẩy chân (= một lần cẩu thả, một lần hẫng hụt, một lần sa ngã) thì phải ôm hận mãi mãi. Ngoái đầu nhìn lại thì mình đã có cơ nghiệp trăm năm. Như vậy thì cái sự “thất túc”, cái sự “sẩy chân” kia chẳng liên quan đến cơ nghiệp, chẳng gây nên hậu quả gì cả, chẳng đáng phải mang hận mãi mãi.
Rõ ràng là, việc đặt chữ cơ ở cuối câu thứ hai (thay cho chữ thân) là một sai lầm nghiêm trọng, một ý kiến thiếu suy nghĩ, sự biện luận cho ý kiến đó là một việc làm gượng ép, vô nghĩa. Vậy mà cũng có vị PGS TS đành giá là “nhất tự thiên kim”. Theo các từ điển Từ nguyên và Từ hải thì thiên kim 千金 nghĩa là một ngàn cân vàng, mà mỗi cân ở Trung Quốc từ thời Đường bằng 666g, sau đó giảm dần, đến thời Thanh là 596g và hiện nay quy định là 500g. Hóa ra, một chữ suy luận sai rành rành của nhà giáo Nguyễn Lân cũng có giá hơn nửa tấn vàng cơ đấy!
Phải chăng, vì quá yêu mến, quá tin tưởng ở trí tuệ của Thầy, hay là vì hiệu ứng đám đông, khi đã khen ai thì mọi người cứ xúm vào khen thật hết lời, cho nên sau hàng chục năm mà vị PGS TS này vẫn không nhận ra cái sai rành rành của ông Thầy?
Xin nói rõ về xuất xứ của hai câu thơ kia. Đó không phải là hai vế đối, cũng không phải là Nguyễn Trường Tộ.
Nhà danh họa kiêm học giả, thi nhân nổi tiềng đời Minh là Đường Dần đã viết: Nhất thất túc thành thiên cổ tiếu 一失足成千古笑, Tái hồi đầu thị bách niên nhân 再回头是百年人(Một lần sảy chân, trở thành trò cười mãi mãi. Quay đầu nhìn lại thì mình đã trở thành người già cả. Đó là sự chiêm nghiệm của tác giả về cuộc đời của mình. 
Đường Dần 唐寅 (1470 – 1524) còn gọi là Đường Bá Hổ, quê ở Tô Châu, tỉnh Giang Tô, là người thông minh, học giỏi. Năm 1498, đỗ Giải nguyên (đỗ đầu Cử nhân) tại trường thi ở phủ Ứng Thiên (Nam Kinh). Năm sau, ông cùng đi với người bạn tên là Từ Kinh 徐 經 đến kinh đô để thi hội. Ông làm bài rất tốt, quan chủ khảo là Lễ bộ Thị lang Trình Mẫn Chính 程政敏 rất phục tài, nhưng người ta phát hiện ra việc Từ Kinh đút lót tiền cho tên đầy tớ của quan chủ khảo để lấy đề thi nên ông cũng bị vạ lây, bị nhốt vào ngục và bị tước danh hiệu Giải nguyên. Về sau, triều đình xét thấy ông vô can nên được trả lại danh hiệu Giải nguyên nhưng đã lỡ mất kỳ thi lần này. Từ đó, ông chán ghét con đường thi cử, quyết từ bỏ con đường công danh, chỉ thích du ngoạn, vẽ tranh và làm thơ. Tuy không bước vào làng khoa bảng và không làm quan to nhưng ông rất nổi tiếng, được người đời xếp vào nhóm “Minh tứ gia”, gồm bốn nhà danh họa nổi tiếng nhất dưới thời nhà Minh. Bởi vậy, đối với ông, sự “sẩy chân” trở thành “trò cười mãi mãi”. Phải chăng, vì rất nổi tiếng nên ông thấy mình đã trở thành “bách niên nhân” nghĩa là người sống lâu (theo nghĩa bóng), mặc dầu ông chỉ sống đến 54 tuổi.
Đến đời Thanh, tiểu thuyết gia Ngụy Tú Nhân 魏秀仁, tức Ngụy Tử An 魏子安 (1819 – 1873) đã cải biên hai câu thơ kia của Đường Dần, thành ra  Nhất thất túc thành thiên cổ hận 一 失 足 成 千 古 恨, Tái hồi đầu thị bách niên thân 再 回 頭 是 百 年 身 để làm hai câu cuối ở một bài thơ “thất ngôn bát cú” trong tiểu thuyết Hoa nguyệt ngấn 花月痕. Toàn văn bài thơ như sau:
芳 心 怕 載 春 愁 重,
花 里 相 思 讓 與 君.
滌 盡 千 年 尘 上 夢,
君 心 應 似 藕 玲 瓏.
相 思 未 必 能 相 見,
夜 雨 春 愁 萬 点 红.
一 失 足 成 千 古 恨,
再 回 頭 是 百 年 身.
Phương tâm phạ tải xuân sầu trọng,
Hoa lý tương tư nhượng dữ quân.
Địch tận thiên niên tiêm thướng mộng,
Tương tư vị tất năng tương kiến,
Quân tâm ưng tự ngẫu linh lung. 
Dạ vũ xuân sầu vạn điểm hồng.
Nhất thất túc thành thiên cổ hận,
Tái hồi đầu thị bách niên thân.
Hai câu do Ngụy Tú Nhân cải biên từ thơ của Đường Dần đã được người đời truyền tụng vì có tính khái quát cao, có thể vận dụng cho rất nhiều người, vì mấy ai từng gặp hoạn nạn mà về sau được vinh dự như Đường Dần? Hẳn là, khi còn sống, Nguyễn Trường Tộ và những người đồng cảm với ông thường nhắc đến hai câu thơ “cải biên” này.

Theo blog Lê Mạnh Chiến