Thursday, November 7, 2019

Quốc âm tân tự - 國音新字


TÊN GỌI

Quốc âm tân tự (chữ Hán: 國音新字) là một loại chữ viết biểu âm. Tên gọi “Quốc âm tân tự” có nghĩa là chữ ký âm của tiếng nói quốc gia.

[Ở đây có một câu hỏi: Tại sao không phải là “quốc ngữ” mà lại là “quốc âm”? - Jeff]

TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI

Dự thảo Quốc âm tân tự hiện còn hai bản viết tay cổ (mỗi bản có bốn tờ) của cùng một văn bản viết về loại chữ này đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam. Trong văn bản Quốc âm tân tự không có thông tin cho biết ngày tháng năm cụ thể tác phẩm này được viết ra. Căn cứ vào việc trong lời tựa của tác phẩm chữ “華” (hoa) trong tên gọi “中華” (Trung Hoa) đã được tị huý bằng cách bỏ không viết nét cuối của chữ này (nét sổ) thì có thể đoán rằng văn bản này được viết dưới thời vua Thiệu Trị (Mẹ vua Thiệu Trị tên là “Hồ Thị Hoa” 胡氏華). Cuối lời tựa của văn bản có dòng chữ “五星聚斗南城居士阮子書” (Ngũ Tinh Tụ Đẩu Nam thành cư sĩ Nguyễn tử thư). Qua dòng chữ này có thể biết rằng tác giả của Quốc âm tân tự là một cư sĩ mang họ Nguyễn (阮) ở thành Nam Định (南定) có biệt hiệu là Ngũ Tinh Tụ Đẩu (五星聚斗).[9]

NỘI DUNG

Quốc âm tân tự có 22 “cán tự” 幹字 và 110 “chi tự” 枝字. Cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu, chi tự dùng để ghi vần. Mỗi cán tự đều được đặt tên bằng một từ mang vần “ông” có phụ âm đầu là phụ âm đầu mà cán tự đó biểu thị, ví dụ như cán tự biểu thị phụ âm “đ” được đặt tên là “đông”. Quốc âm tân tự không phân biệt “d” và “gi” như chữ quốc ngữ. Có một cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu /ʔ/, cán tự này được đặt tên là “ông”.[10]

Tác giả của Quốc âm tân tự đã dùng bốn nét bút là ngang (一), sổ (丨), chấm (丶), phẩy (丿) (nét phẩy còn có biến thể là “㇏”) để tạo nên các cán tự và chi tự. Không phải chữ đơn nào cũng có đủ bốn nét bút kể, có những chữ đơn chỉ có chứa hai hoặc ba nét bút nhưng dù một chữ đơn có bao nhiêu nét bút thì tổng số nét, không phân biệt loại nét bút, trong chữ đơn đó đều là bốn.[11]

Quốc âm tân tự sử dụng cách phân chia thanh điệu truyền thống, thanh điệu được chia thành bốn loại là “bình” 平, “thướng” 上, “khứ” 去, “nhập” 入. Mỗi loại lại được chia ra thành hai bậc “âm” 陰 và “dương” 陽.[12] Tổng cộng có tám thanh là:[12]

“Âm bình” 陰平: là thanh ngang theo cách gọi ngày nay.
“Dương bình” 陽平: là thanh huyền theo cách gọi ngày nay.
“Âm thướng” 陰上: là thanh hỏi theo cách gọi ngày nay.
“Dương thướng” 陽上: là thanh ngã theo cách gọi ngày nay.
“Âm khứ” 陰去: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương khứ” 陽去: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Âm nhập” 陰入: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương nhập” 陽入: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.


Các thanh thuộc bậc âm được ghi bằng một dấu nhỏ hình nửa vòng tròn, các thanh thuộc bậc dương được ghi bằng một dấu nhỏ hình vòng tròn. Để biểu thị thanh bình, dấu thanh được đặt bên cạnh “chân trái” của chữ, với thanh thướng dấu thanh được đặt bên canh “vai trái” của chữ, với thanh khứ dấu thanh được đặt bên cạnh “vai phải” của chữ, với thanh nhập dấu thanh được đặt bên cạnh “chân phải” của chữ.[12]

Jeff - Sưu tầm từ wikipedia và tài liệu trôi nổi.

Monday, April 25, 2016

Việt Nam qua mắt giáo sĩ phương Tây: Nhà của người Bắc kỳ


Một số ghi chép dưới đây của nhà truyền giáo G.F.de Marini (1608 - 1682). Ông đã ở Bắc kỳ 14 năm, sau đó cho in cuốn sách về xứ sở này tại Paris năm 1666.


Nhà làm bằng gỗ và rơm
Nhà cửa của người Đàng Ngoài và lối họ xây dựng rất giản dị không được suy nghĩ kỹ càng và không theo một chủ ý gì cả. Bởi thế họ không cần nhờ đến các kiến trúc sư, đến các ông thợ cả vì theo tôi không cần tinh khôn lắm mới dựng được cho mình những cái nhà như thế. Làm gì có những sự chạm trổ tinh vi, những gian nhà đẹp như những lâu đài. Mọi vật đều làm bằng gỗ và rơm. Người dân dựng bốn cái cột hình tròn, được bào đục ít nhiều, lên trên những khối đá tròn và rộng nhiều hay ít dùng làm trụ đỡ vì không thể chôn chân cột xuống đất trừ phi cột ấy làm bằng một thứ gỗ rất hiếm và đắt không mục ngay ở dưới đất. Họ đặt lên trên bốn cái cột đó nhiều miếng gỗ khác; khi nào những người dân túng thiếu này muốn làm nhiều gian nhà, họ dựng thêm nhiều cột, vách, ván hay tre, trát bằng một thứ bột rất nhuyễn màu thiên thanh nhạt.
Nền bằng đất nện kỹ, mái lợp rơm hay rạ. Nhà làm cách xa nhau, xung quanh có hàng rào sậy, có vườn, có ao thả cá - món ăn thường của người nghèo. Giường đặt cách mặt đất chừng hai thước chỉ gồm có một lớp gỗ dài bốn thước lắp với bốn mảnh gỗ, trên đặt giát tre hay một lần lưới đan bằng dây; trên nữa trải chiếu; họ nằm ngủ chẳng có đệm, chẳng có chăn đắp.
Nhà những người giàu có, quan tư cũng ngang mực với đất; nên đến cửa thì ta bước vào nhà ngay. Những nhà này rộng, xây dựng có ngăn nắp và làm bằng vật liệu tốt hơn nhà của thường dân. Trước mặt nhà lối cửa vào có sân rộng nhiều hay ít đủ chứa những người đến nhờ vả hay kêu xin điều gì. Có hành lang lợp và làm theo hình bán nguyệt chạy quanh nhà. Những khung hình tò vò đặt lên những cột gỗ to rất tốt, đối nhau rất đều.
Cửa vào nhà thường dân thấp và bé để bọn trộm cướp khó mang đi những đồ vật chúng lấy được. Cửa ngõ nhà quan thì rộng hơn vì các ngài không sợ gì trộm cướp (chính chúng lại sợ các ngài) và có lính canh giữ luôn luôn. Tuy vậy những nhà quan cũng không có những tấm thảm hay những bức hàng quý giá; chỉ có những thứ chiếu nhỏ bằng cói rất đẹp; nhuộm màu khác nhau, trên có nhiều hình đẹp; của cải để cả vào thóc gạo, người nào có nhiều thưng gạo nhất được coi là giàu có nhất, thành thử khi ta nói ai có nhiều lúa thóc chính ta muốn bảo rằng người ấy rất giàu có, sung túc.
Trong xứ không có đường to, không có phố lát đá và chia ra từng đoạn như bên ta, nhưng nhà cửa cách nhau và rải rác khắp đồng ruộng như tôi đã nói ở trên. Một số đông nhà họp lại thành một làng trong có một nhà công cộng (đình).
Thành Hà Nội
Bây giờ ta sang chuyện hoàng thành để biết sự tráng lệ của kinh kỳ, dù các nước ngoài gọi vắn tắt là kinh đô (La Cour) vì vua thường đóng ở đấy. Dân bản xứ thì đặt tên là Kẻ Chợ, nghĩa là chợ, chợ phiên. Bởi vì, trong xứ có sản vật gì tốt, ngoại quốc có hàng gì đem vào bán, đều đưa đến đây cả, một tháng có hai phiên chợ to, vào ngày mùng một và mười lăm của tuần trăng. Kẻ Chợ chiếm một vùng đồng bằng rất đẹp và rất phì nhiêu, rộng hàng bao nhiêu dặm và đặt trên bờ một con sông phát nguyên từ Trung Quốc. Sông bọc lấy thành thị trong một khuỷu rộng nên việc buôn bán được dễ dàng; thuyền bè luôn đi lại được trên sông; sông còn chia ra nhiều ngành, nhiều sông đào rất có ích cho việc chuyên chở các hàng hóa và làm thuận tiện việc buôn bán các tỉnh ngoài với đô thị.
Người Âu châu nào đến thăm kinh thành (hay Kẻ Chợ tùy theo lối gọi của mỗi người), sẽ thấy nhà cửa ở đấy không phải là những đầu đề để ta ca ngợi, bởi vì nhà cửa cũng không khác nhà cửa những vùng khác trong nước; muốn làm những nhà đẹp hơn, phải tiêu tốn hơn vì đào sâu 2, 3 thước đã thấy nước rồi, muốn tiện lợi mỗi nhà đào một ao nhỏ thả cá, có nước dùng để giặt quần áo, tắm rửa, tưới rau.
Nhà nào cao lắm thì có tầng gác thứ nhất, nhưng trên làm nhiều chỗ cao, phòng khi nước lụt thì rút lên ở. Phố xá không lát đá. Dân gian thiếu chút nữa thì tồng ngồng và bao giờ cũng đi chân không như ở khắp trong xứ. Tuy có chỗ bẩn thỉu và đáng xấu hổ, ta cũng nên công nhận rằng thành này có nhiều chỗ rực rỡ lộng lẫy.
Thành phố có 72 phường phố, mỗi phường rộng bằng một thành phố trung bình bên Ý Đại Lợi ta. 72 phường đầy những thợ cùng người buôn, muốn tránh sự hỗn độn và giúp ta tìm ngay được thức ta cần dùng, ở cửa mỗi phường có một tấm biển đề rõ thứ hàng, tốt hay xấu thành ra ít khi có người (cả người ngoại quốc) bị nhầm về giá hàng, về phẩm hàng tốt hay xấu, về lượng hàng bán đủ hay thiếu. Trên kia tôi đã nói là người ta chở đến đây tất cả các thứ sản vật trong xứ, của ngoại quốc, chở đến nhiều hơn bất cứ nơi nào trong nước. Vì lẽ ấy nên đức vua muốn các hàng hóa ngoại quốc đều ghé lại xứ, và ngài chỉ ưng rằng các tàu bè Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Miên (Campuchia - PV), Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Phi Luật Tân (Philippines - PV), Hà Lan và các nước khác ở Đông phương muốn vào trong xứ phải ngược sông (Nhị Hà), không được đậu bến nào ngoài bến Kẻ Chợ.
G.F.DE MARINI
Nguyễn Trọng Phấn (dịch)
(Theo Thanh niên) 

Friday, April 22, 2016

Việt Nam qua mắt giáo sĩ phương Tây: Đất kinh kỳ





 Chân dung giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ảnh: T.L


Với bút danh Thiện Chân, trên Tạp chí Thanh Nghị, từ số 2 năm 1941 đến số cuối cùng năm 1945, dịch giả Nguyễn Trọng Phấn (1900 - 1996), vốn là cán bộ khoa học của Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp tại VN, đã tuyển dịch và giới thiệu những tài liệu về xã hội VN từ thế kỷ XVII do các giáo sĩ phương Tây từng đến VN dưới triều đại vua Lê - chúa Trịnh - chúa Nguyễn ghi chép lại. Các tài liệu này vừa được tập hợp trong cuốn sách Xã hội VN từ thế kỷ XVII (NXB Tổng hợp TP.HCM). Thanh Niên xin trích giới thiệu với độc giả.

Điều làm cho vua xứ Bắc có thế lực khiến các vua lân cận khiếp sợ, là số dân đông vô kể ở bảy trấn dưới quyền vua cai trị, cứ xem số người thường ở Kẻ Chợ là nơi vua lập triều đình thì đủ biết.

Đi ngả nào cũng thấy vướng

Tuy rằng kinh kỳ dài hơn sáu nghìn bộ (1 bộ = 2,125 m, 6.000 bộ = 12,75 km - PV) ngang cũng chừng bấy nhiêu, phố xá rộng rãi, mười hay mười hai cỗ ngựa có thể ung dung đi ngang nhau được, thế mà mỗi tháng hai kỳ - vào rằm, mùng một là ngày dân nghỉ lễ - ta thấy trong tỉnh đông người qua lại khắp mọi phố đến nỗi đi ngả nào cũng thấy vướng. Thành thử người nào cũng bị xô đẩy, bị cản, bắt buộc mất nhiều thì giờ mà chả đi được mấy bước đường.

Do đấy và căn cứ vào vài điều phỏng đoán khác, người ta thường ước dân số kinh kỳ được một triệu người.

Người Bắc có tục ăn trầu là thứ có lợi cho sức khỏe và có vị ngon, bao giờ họ cũng giắt vào thắt lưng một giỏ con hay một bao đầy trầu cau, ra đường gặp bạn bè thì mở ra, rồi sau khi đã chào nhau rất lễ phép, mọi người nhận lấy một miếng trầu têm sẵn của người kia mà ăn. Vì thế trong tỉnh kẻ nào hơi khá giả thì sai đầy tớ sửa sắm thứ quà nhỏ ấy, đem biếu lẫn nhau để tỏ tình thân mật; còn thường dân không có kẻ hầu têm sẵn ở nhà thì đã có tới năm vạn hàng bán trầu lẻ rải rác khắp kinh thành.
Bìa sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII
Nhìn áo lính biết lòng trung thành

Tôi không thấy có gì đáng khen và lạ bằng sự quân lính xứ Bắc đông như thế, đặt dưới quyền lắm tướng như thế, hay hội họp canh gác, xếp hàng ngũ hoặc ở điện nhà vua hoặc ở vùng thôn quê luôn như thế, mà cả giữa những bữa khao nhà vua và các tướng ban cho họ vui cũng không bao giờ ai thấy họ cãi nhau, nói khích nhau, chửi bới khinh miệt nhau mà cũng không bao giờ ai nghe thấy nói đến sự họ đâm chém nhau.

...Tuy ta có thể cho sự điềm đạm ấy là do ở bản tính họ vốn lành, nhưng cũng phải nhận là một phần lớn do ở sự họ tôn kính và sùng bái vua và tướng. Họ gọi vua là thiên tử và sùng bái vua như một đấng thiêng liêng tự trên trời xuống để cai trị họ. Sự sùng bái ấy là căn bản cái tục họ theo hằng năm như sau đây.

Vào quãng tháng sáu nguyệt lịch - thường thường vào tháng tám của ta - vua ban một đạo dụ truyền cho quân tướng đúng ngày đến tuyên thệ tỏ lòng trung thành với vua... Ở các ngả đường chính trong kinh thành người ta thiết lập những hương án bày biện trang hoàng vẫn để thờ thần: Ở chính giữa hương án, đã biên nhời thề bằng chữ to, họ đứng dưới chân hương án cũng nom rõ; hứa sẽ trung với vua và nếu sai lời thì phải trăm nghìn thứ tai nạn... Muốn tránh sự hỗn độn vì lính đến thề rất nhiều và lễ tuyên thệ nội trong một ngày xong, người ta đặt rất nhiều hương án, mỗi hương án dành riêng cho mấy tướng và mấy đội lính, có một quan văn được cử ra thay vua để làm chủ lễ và để sau khi đã tuyên thệ rồi thì phát cho mỗi tên lính một mảnh giấy chứng nhận rằng họ đã thề và đã được nhận vào làm lính nhà vua.

Ai nói tiếng to, rõ ràng, quả quyết thì được chữ minh nghĩa là rõ. Ai nói nhỏ, giọng đục phải chữ bất minh nghĩa không rõ. Còn lại nói giọng vừa phải thì được chữ thuận nghĩa là thường. Những mảnh giấy ấy không phải là vô giá đâu: vì mỗi người lính, đợi lễ tất, đem giấy về cho chủ tướng (ông này thề xong là về ngay) thì được chủ tướng phát cho một chiếc áo vua ban. Ai có chữ minh thì được hạng áo tốt và dài; ai có chữ thuận thì được áo ngắn hơn bằng vải thường; ai phải chữ bất minh thì áo vải xấu và ngắn nữa. Thành ra suốt một năm, người ta trông áo mà biết được người lính nào trung nghĩa, tận tâm và được yêu quý trong hàng ngũ của nhà vua.

Nhà truyền giáo dòng Tên người Pháp Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) tới Trung kỳ năm 1624. Tháng 3.1627 ông được cử ra lập giáo đoàn tại Bắc kỳ; tháng 5.1630 thì bị chúa Trịnh Tráng đuổi ra khỏi xứ Bắc. Alexandre de Rhodes quay về Trung kỳ rồi sang Áo Môn (Ma Cao - Trung Quốc), đầu tháng 2.1639 lại trở về Trung kỳ. Nhưng mấy năm sau chúa Nguyễn Phúc Lan cấm đạo thì Alexandre de Rhodes bị bắt và bị kết án tử hình, nhưng không bị chém mà chỉ bị trục xuất ra khỏi xứ (tháng 7.1645). Vào năm 1651, ông cho in cuốn Từ điển Việt - Bồ - La dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ.









Alexandre de Rhodes
(Theo Thanh niên)

Monday, March 7, 2016

Bìa sách hay là tác phẩm nghệ thuật

Claire Fallon, phóng viên văn hóa của The Huffington Post vừa xuýt xoa đưa ra một loạt bìa sách trông không khác gì những tác phẩm nghệ thuật đương đại.

Điểm chung của những bìa sách này là ở thiết kế hút mắt với phong cách hoặc tối giản mà táo bạo hoặc các chi tiết cực kỳ phức tạp.

Cô Claire Fallon đánh giá, mỗi bìa sách này bản thân nó đã xứng đáng là một tác phẩm nghệ thuật.

Hãy cùng chiêm ngưỡng và đừng tự trách bản thân nếu có vô tình liên tưởng đến một vài bìa sách gần đây của Việt Nam (Truyện Thúy Kiều chẳng hạn).










Xem bài gốc tại đây.

Monday, June 22, 2015

Truyền thuyết “bông trăng”


Cứ vào mùa này trên khắp các triền đồi ở vùng Mường Ống thuộc huyện Bá Thước (Thanh Hóa) lại có một loại hoa nở kín rừng. Người dân nơi đây còn ví loại hoa này là “sử quân tử” bởi hoa luôn có màu đỏ tươi và màu trắng bạch. Loài hoa đó chính là sự kết hợp giữa màu áo của chàng Bông Hương và máu của nàng Ờm. Họ đã trải qua một mối tình đẹp đẽ, tuy nhiên do gia đình ngăn cản nên cả hai đã ăn lá ngón tự tử.


Bông trăng

Ly kỳ truyền thuyết "loài hoa lạ"

Ngược về vùng Mường Ống huyện (Bá Thước), chúng tôi tìm về ngọn núi Làn Ai, nơi có loài hoa lạ. Ngắt một chùm hoa Bông Trăng đội đầu cho đỡ nắng thì gặp cụ Bùi Thị Mai (70 tuổi) đang ngồi phía dưới vạt đồi. Xung quanh cụ là bầy trẻ con, ai cũng say sưa nghe chuyện về truyền thuyết chàng Bông Hương và nàng Ờm từ thủa mới lập Mường.

Thấy chúng tôi cầm chùm hoa Bông Trăng trên tay, lại là người đất Mường nên cụ Mai không ngần ngại kể lại câu chuyện: Theo cụ Mai, ngày xưa ở vùng Mường Ống có một chàng trai tên là Bông Hương và một cô gái tên là nàng Ờm, giữa họ nảy sinh mối tình và yêu nhau tha thiết. Những đêm trăng sáng chàng trai thường hẹn cô gái dưới chân núi Làn Ai, họ nói với nhau bằng lời ngon tiếng ngọt, lời chắc tiếng bền: “Dù sông sâu có cạn/ núi đá cao có mòn/ hai ta vẫn cứ nên duyên chồng vợ”.


Bông trăng

Nhưng vì nàng Ờm là con nhà quan Lang giàu có, còn chàng Bông Hương là con trai nhà nghèo. Vì vậy cho nên cha mẹ, họ hàng nhà nàng Ờm không gả con gái cho chàng trai và đánh đập nàng tàn nhẫn bằng: "Bốn mươi roi cây trảy, bảy mươi roi cây lèn en", sau đó đuổi nàng khỏi nhà.

Nghe tin, chàng Bông Hương chạy đến thì thấy người yêu đang trong cơn đòn roi thảm khốc. Chàng vội ôm trầm lấy nàng rồi chạy lên núi Làn Ai. Dọc đường chàng Bông Hương cởi chiếc áo trắng lau vết máu cho nàng. Máu nàng thấm đỏ áo chàng, rồi chàng mắc áo vào cây “chạng bạng”, (đây là một loài cây lá to mọc thẳng, có hai cành giang ra hai bên).

Biết chẳng thể thoát được sự truy đuổi của quan binh nhà Lang, “sống chẳng được ở chung cửa chung nhà cũng chẳng xong”. Nên họ đã chạy đến mỏm đá cheo leo hiểm trở nhất, rồi cùng ăn lá ngón tự tự.

Cây “chạng bạng” nâng niu chiếc áo chàng và tự nó biến thành một loài cây có hoa màu trắng lẫn màu đỏ quấn quýt vào nhau. Về sau người dân Mường Ống thuộc vùng núi Làn Ai còn truyền tai nhau về một bài đồng dao rằng: “Chàng Bông Hương cõng nàng chạy miết/ máu đỏ nhỏ và áo trắng/ ơi hoa bông trăng. Nửa trắng áo anh trong trắng/ nửa đỏ máu em rỏ từ tim/ tình yêu hóa đá im lìm. Chuyện Làn Ai từ ngàn năm trước/ thành nỗi ước cho ngàn năm sau/ lá bùa yêu chưa nhặt được để trao nhau…”

Người Mường quan niệm cây hoa đó là oan hồn của đôi trai gái hóa thành, vì vậy hoa có một đặc đểm rất lạ là khi gặp mưa thì hoa lại có màu trắng, còn gặp nắng thì hoa biến thành màu đỏ. Hàng năm cứ vào tiết trời tháng ba thì hoa bắt đầu nở. Ai nhìn kỹ loài hoa này sẽ thấy từng bông nhỏ li ti trông không khác gì chiếc cúc áo khóm của các cô gái bản Mường.
Cụ Mai bảo: “Loài hoa đó có sức sống lâu bên ở mọi thời tiết khắc nghiệt, vì nó thể hiện tình yêu của chàng Bồng Hương dành cho nàng Ờm. Bởi chàng yêu nàng là để thành cửa thành nhà chứ không phải ong qua bướm lại”. Sau khi nàng Ờm chết đi, mẹ nàng hối hận đã đi tìm con.

Một hôm người chú của nàng Ờm đi săn trong rừng sâu gặp xác của cháu gái thì đã thấy “ở trên đầu nàng có đàn kiến nhặng, ở giữa lưng nàng có đàn kiến bống”. Nghe tin báo, người mẹ chạy đến gục xuống bên xác con khóc nức nở, bà cầu xin nàng sống lại để trở về với Mường.

Một lúc sau oan hồn nàng Ớm hiện lên và nói với Mẹ là: “Con đã đi về với đàng Mường ma không thể trở lại, nếu mẹ thương con thì từ nay con sẽ biến thành con kiến đen về ăn nhờ cơm rơi cơm vãi nhà mẹ thôi”. Về sau, truyền thống của người Mường không bao giờ giết con kiến đen vì họ cho rằng đó là hồn ma của ông bà cha mẹ tổ tiên hiện về thăm nhà thăm cửa.


Độc đáo lễ hội “pôồnpôông”

Hàng năm cứ đến mùa hoa Bông Trăng nở, đồng bào người Mường nơi đây lại mở lễ hội “pôồn pôông”. Lễ hội này dựng lên nhằm cầu chúc cho mối tình chung thủy của nàng Ờm và chàng Bông Hương từ khi mới lập bản. Nếu như khách thập phương có dịp về bản Mường dự hội “pôồn pôông”, thì họ sẽ thấy rõ những nét đặc sắc qua từng điệu nhảy, điệu múa xung quanh cây bông. Lễ hội diễn ra từ sáng đến tối, có khi kéo dài tới hai ngày ba đêm.


Cụ Bùi Thị Mai

Một thời lễ hội truyền thống này bị mai một, thế nhưng từ khi tỉnh Thanh Hóa liên tục tổ chức hai năm một lần “Liên hoan văn hóa các dân tộc miền núi Thanh Hóa” (năm 1987), thì lễ hội này lại sống lại. Có thể nói rằng, lễ hội “Pôồn Pôông” của người Mường ở Thanh Hóa thể hiện giá trị văn hóa cao đẹp. Bởi nó ẩn chứa tín ngưỡng tâm linh qua từng lời ca tiếng hát đến mê đắm lòng người. Ai cũng hòa mình cùng điệu múa xen lẫn tiếng cồng, tiếng chiêng giục giã, mời gọi, thôi thúc đến mê lơi.

Cụ Mai cho biết thêm: “Hàng năm dân bản chúng tôi đều phải phải tổ chức lễ hội “Pôồn Pôông”, để cầu mưa thuận gió hòa. Theo các cụ, lịch sử của lễ hội này có từ sau truyền thuyết cây bông. Ngoài ra cây bông của đồng bào Mường chúng tôi còn được ví như một quả đất, để đẻ ra cây cối cho dân bản làm nhà, sinh ra cây gạo, cây sắn cho đồng bào trồng trọt…”


Truyền thuyết tên hoa “Sử quân tử”


Vào đời Tống, Phan Uyên có vị lang trung tên là Đôn Sử Quân, y học uyên thâm, xóm làng đều kính nể ông. Một lần ông lên núi hái thuốc thì bị một loài quả trên dây leo thu hút, quả có hương thơm ngọt mát, dịu nhẹ cho nên ông đã hái về để thử tính thuốc của nó. Mấy hôm sau ông thấy mấy quả này vẫn chẳng khô nổi, sợ để lâu thì mốc nên ông đem sao cho khô, mới một chốc mà mùi thơm từ việc sao quả này đã lan khắp phòng, đứa cháu nhỏ tuổi của ông cứ bám chân đòi ăn quả. Không còn cách nào khác ông liền nhặt 3 hạt cho cháu ăn, không ngờ sáng hôm sau, khi đứa cháu đi vệ sinh, mấy con giun đã bị thải ra ngoài. Ông nghĩ chắc chắn là có nguyên nhân, và thử tiếp cho cháu ăn thêm 8, 9 hạt. Lần này khiến cho đứa cháu nấc liên tục lại nôn mửa nhiều, ông biết là đã cho cháu ăn quá liều và trúng độc, ông liền cho cháu ăn cam thảo và gừng sống để giải độc. Vài ngày sau ông lại cho cháu ăn thêm 3, 4 hạt. Quả nhiên người cháu lại đi ra thêm vài con giun. Đứa cháu của ông vốn lười ăn, da vàng người yếu ớt, từ khi ăn quả này chẳng những loại trừ được giun mà còn khiến cho đứa cháu ăn rất nhiều, người khỏe dần lại. Kể từ đó, mỗi khi ông đi chữa bệnh gặp bệnh giun ông đều dùng loại quả này để chữa. Mọi người hỏi tên loại quả này là gì, ông nhất thời cũng chẳng biết gọi nó là gì, cuối cùng đành gọi theo cách mọi người nói "Hạt Sử Quân = Sử Quân Tử"

Tổng hợp theo Dân Việt và bạn Uyên Miuieu

Wednesday, June 17, 2015

Luận Dương vật


Viết xong bài “...Và những thứ con khác”,[1] tôi cứ bị ám ảnh mãi một điều: tại sao khi thấy Trần Dần văng tục “Nắm, nắm cái con cặc”, tôi lại thấy rất.. đã. Ðã, không phải vì nó tục mà vì... nó hiên ngang, nó hùng dũng, nó... đầy khí thế. Tại sao?

Trịnh trọng
Ảnh: Sưu tầm, tiêu đề do Chuyện phố đặt

Tôi biết chắc không phải chỉ mình tôi mới có cảm giác ấy. Trong đám bạn bè tôi, hầu hết là trí thức và một số là phụ nữ, cũng có nhiều người nói với tôi như vậy. Họ cũng thấy câu văng tục ấy hiên ngang, hùng dũng và đầy... khí thế. Tại sao?
Tôi sực nhớ một câu chuyện xảy ra hồi cuối năm 2002, lúc tôi về thăm Việt Nam. Trong một bữa nhậu, một nhà thơ từ Canada về nửa đùa nửa thật chê một nhà thơ ở Sài Gòn là hay viết sai chính tả. Ví dụ anh nêu lên là: trong một bài thơ gửi in trong một tuyển tập của những nhà thơ được xem là tiêu biểu của Việt Nam hiện nay, thay vì viết “cặc”, nhà thơ ấy lại viết “cặt”. Nhà thơ ở Sài Gòn nhìn sang tôi như tìm một trọng tài. Tôi gật đầu xác nhận: “C”. Anh không cãi, nhưng lại cố chống chế: “Tôi nghĩ viết chữ ‘cặt’ với chữ ‘t’ nghe nó mạnh mẽ hơn. ‘Cặc’, với chữ ‘c’, thấy nó cong cong và nghe nó yếu xìu.”
Dĩ nhiên là nhà thơ ấy nguỵ biện. Nhưng đằng sau sự nguỵ biện ấy là một sự thật: anh dùng chữ “cặc” trong bài thơ không phải vì nhu cầu nói tục mà chủ yếu vì nhu cầu bộc lộ một cái gì đó anh nghĩ là “mạnh mẽ”. Ðiều đó có nghĩa là, với anh, chữ “cặc” không phải chỉ biểu thị bộ phận sinh dục của đàn ông mà còn biểu thị một thái độ. Mà, nghĩ lại xem, đâu phải chỉ với anh thôi đâu. Với người khác cũng thế. “Cặc” hay bất cứ từ nào chỉ các bộ phận sinh dục của nam hay nữ cũng đều bao hàm trong chúng một thái độ nhất định. Ðiều đó cũng lại có nghĩa là, bộ phận sinh dục không phải chỉ có tính sinh lý, chỉ trần là xác thịt, mà, cũng giống như toàn bộ thân thể con người, còn là một ý niệm... văn hoá.
Trước hết là thân thể con người. Trong cách nhìn của giới nghiên cứu hiện nay, nói theo sự tóm tắt của Janet Lee, “thân thể là một ‘văn bản’ của văn hoá, là hình thức biểu trưng trên đó ghi dấu các quy phạm và các thiết chế xã hội”.[2] Ở Việt Nam, các học thuyết lớn, vốn được du nhập từ Trung Hoa và Ấn Ðộ, ít quan tâm đến thân thể, tuy nhiên, trong cách nhìn truyền thống của người Việt Nam, biểu hiện qua ngôn ngữ, thân thể lại có tầm quan trọng hết sức đặc biệt: trong tiếng Việt, có hai từ chính chỉ thân thể: “người” và “mình”. Cả hai đều đồng nghĩa với con người nói chung: “người” vừa là thân thể (ví dụ: người ướt đẫm mồ hôi) vừa là cộng đồng (ví dụ: người Việt / người Úc) vừa là nhân loại (ví dụ: của chuột và người); “mình” vừa là thân thể (mình đau như dần) vừa là một cá nhân cụ thể (“mình” với tư cách ngôi thứ nhất số ít) vừa là một tập thể (“mình” với tư cách ngôi thứ nhất số nhiều). Trong cả hai hệ thống chuyển nghĩa, thân thể bao giờ cũng được xem là một trung tâm.
Về một phương diện nào đó, trung tâm của thân thể là gì nếu không phải là bộ phận sinh dục, yếu tố chủ yếu xác định phái tính, từ đó, vị trí của cá nhân trong cấu trúc xã hội? Ðụng đến bộ phận sinh dục là đụng đến văn hoá, thậm chí, đụng đến một trong những phần sâu thẳm nhất của văn hoá. Cả Sigmund Freud lẫn Jacques Lacan đều xem những khoái cảm sinh lý là nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành nhân cách, đều xây dựng lý thuyết về dục vọng, dục tính và chủ thể tính của họ trên hình ảnh của dương vật (hoặc sự thiếu vắng của dương vật), và đều hình dung lịch sử văn minh của nhân loại như là một tiến trình đè nén và thăng hoa của bản năng sinh lý vốn chủ yếu gắn liền với các bộ phận sinh dục.[3] Từ mấy chục năm gần đây, dưới ảnh hưởng của Michel Foucault, bộ phận sinh dục hay thân thể con người nói chung, càng ngày càng được nhìn như một cái gì được tạo thành hơn là có sẵn: nó được tạo thành bởi các hoạt động diễn ngôn và các quy phạm văn hoá trong những hệ thống quyền lực nhất định.[4] Trong ý nghĩa này, đụng đến bộ phận sinh dục cũng là đụng đến chính trị: những câu chuyện về các bộ phận sinh dục và các hoạt động của chúng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình đời sống chính trị và đạo đức trong xã hội, từ đó, góp phần quan trọng trong việc định hình ý niệm bản sắc cá nhân, và cũng từ đó, làm thay đổi hầu như toàn bộ các mối quan hệ tương tác giữa người với người.[5]
Mang tính văn hoá, cặc không phải chỉ là một vật thể mà còn là một ký hiệu, hơn nữa, một ẩn dụ, tồn tại như một biểu tượng, nghĩa là vừa là nó lại vừa không phải là nó. Nó là biểu tượng của vô số điều khác nhau: với các nhà sinh học, nó là biểu tượng của sự truyền giống; với các nhà đạo đức, nó là biểu tượng của xác thịt và của sự phàm tục, một đối cực của tinh thần và sự linh thiêng; với các nhà nữ quyền, nó là khí cụ dùng để trấn áp; với các nhà thẩm mỹ truyền thống, nó là biểu tượng của sự tục tằn; với các nhà thẩm mỹ theo khuynh hướng cách tân, nó là... cách mạng, v.v... Tính biểu tượng ấy làm cho “cặc” trở thành từ đa nghĩa và đa tầng: nó thâu tóm trong nó cả lịch sử nhận thức và lịch sử thẩm mỹ của một cộng đồng. Người ta đối diện với nó không phải chỉ với tư cách một cá nhân mà còn với tư cách của một tập thể và một lịch sử. Cảm giác thích thú hay khó chịu của người đọc khi đọc bài viết này là một thứ phản ứng có điều kiện, được hình thành dần dần qua thời gian, với vô số những tác động từ bên ngoài, chứ tuyệt đối không phải là một cái gì tự nhiên nhi nhiên. Bắt chước cách nói đã thành sáo ngữ, tôi có thể nói thế này: bạn hãy cho tôi biết bạn có cảm giác như thế nào khi đọc chữ “con cặc” trong bài viết này, tôi sẽ cho bạn biết bạn là ai.
Là một biểu tượng, “cặc” khác với “lồn”.[6]
Hãy thử để ý đến các câu chửi tục hay văng tục của người Việt Nam. Nói chung, cách chửi tục và văng tục của người Việt Nam có mấy đặc điểm chính: thứ nhất, hay nhắc đến các bộ phận sinh dục;[7] thứ hai, phái nào nhắc đến bộ phận sinh dục của phái ấy.[8] Chính ở điểm thứ hai này, chúng ta có cơ hội nhìn thấy những khác biệt trong cách nhìn của hai phái nam và nữ về bộ phận sinh dục của chính họ.
Cứ lấy ngay những câu chửi tục làm ví dụ. Ðiều cần ghi nhận đầu tiên là, trong tiếng Việt, ở phía nữ giới, hoàn toàn không có từ nào có thể được xem là tương đương với từ “trỏ cặc” hay “văng cặc” ở nam giới. Rõ ràng là phụ nữ không “văng” và cũng không “trỏ”. Chửi nhau, họ dùng các động từ khác: bú, liếm, chui, nhét, v.v... Trong khi đó, nam giới thì khác. Ðã đành là có một số trường hợp, người ta cũng đòi “nhét” của quý của mình vào miệng đối thủ, nhưng những cách diễn tả như vậy khá hiếm hoi. Phổ biến hơn, người ta chỉ nói một cách ngắn gọn: “Cặc!” hay “Cặc tao đây nè!" Vậy thôi.
Sự khác biệt ở đây là gì? Khác, trước hết, ở chỗ: với phụ nữ, chửi chủ yếu là một cách hạ nhục đối phương, chà đạp lên nhân phẩm của đối phương, bắt đối phương phải làm những chuyện bị xem là thật đáng xấu hổ; với nam giới, chửi chủ yếu là một hành động thách thức và khiêu khích, tự nâng mình lên cao hơn đối phương. Khác, còn ở điểm nữa: trong cách nhìn của nữ giới, bộ phận sinh dục của chính họ là một cái gì xấu xa và dơ dáy, nơi dùng để trừng phạt, để đày đoạ và để sỉ nhục người khác; trong cách nhìn của nam giới, bộ phận sinh dục của họ là cái gì rất đáng... tự hào, với nó, người ta xác định một thế đứng đầy ngạo nghễ.[9]
Thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Ðã đành cả hai đều là những bộ phận quan trọng nhất trong việc xác định cái giống (sex) của con người, nhưng trong khi bộ phận sinh dục của phái nam là cái gì lộ hẳn ra ngoài, bộ phận sinh dục của phái nữ lại nằm sâu hút bên trong, trở thành một thế giới đầy bí ẩn, có mặt như một sự vô hình, thậm chí, như một sự khiếm khuyết, một thứ dương vật bị cắt bỏ hay bị lộn ngược vào trong;[10] trong khi bộ phận sinh dục của nam giới có thể bị thiến, bị liệt, bộ phận sinh dục của phụ nữ không có nguy cơ bị biến mất. Nó có đó và nó sẽ còn đó mãi. Chính vì vậy, người ta không phải lo lắng đến sự tồn tại của nó. Người ta quan tâm hơn đến những yếu tố thứ yếu và phụ thuộc: mái tóc, mí mắt, đôi môi, bờ vai, bộ ngực, cái eo, đôi mông, v.v... Hậu quả là, thứ nhất, chính vì sự quan tâm ấy, cái đáng lẽ là thứ yếu và phụ thuộc lại trở thành trung tâm: người phụ nữ có thể bị xem là không có tính-cái nếu có một mái tóc cụt, một bờ vai ngang, một bộ ngực lép, hay đôi khi, chỉ cần một giọng nói hơi ồ ề. Thứ hai, được xác định bằngnhiều yếu tố như vậy, ý niệm về tính-cái dễ lâm vào tình trạng phân tán và bất nhất: đây chính là lý do khiến cho hình ảnh của người phụ nữ ở những xã hội và những thời đại khác nhau rất khác nhau. Thứ ba, ở vị trí trung tâm, các yếu tố vốn là thứ yếu và phụ thuộc ấy đều mang tính văn hoá: chúng gắn liền với những cách nhìn và cách nghĩ của con người; chúng đi vào văn học và nghệ thuật; chúng trở thành những biểu tượng và những giá trị. Trong khi đó, bộ phận sinh dục lại bị quên lãng; và vì bị quên lãng nên mãi mãi mang tính sinh lý.
Ngay cả khi bộ phận sinh dục cũng như toàn bộ thân thể của phái nữ đã được “văn hoá hoá” thì, trong cách nhìn truyền thống mang nặng tính duy dương vật (phallocentric), chúng cũng không có giá trị tự tại đủ để có thể trở thành một sự tự hào hay thách thức: thân thể phụ nữ giống như một lãnh thổ tự nhiên, ở đó, cái đẹp thuộc về kẻ khác: chồng họ, người yêu của họ, hoặc những người đang nhìn ngắm họ. Họ sở hữu chúng nhưng không thực sự có chủ quyền trên chúng.[11]
Bộ phận sinh dục nam thì khác. Nó là yếu tố hầu như duy nhất xác định tính đực của nam giới. Mất nó, dù đẹp trai đến mấy, lực lưỡng đến mấy, dù râu ria rậm rạp đến mấy, người ta cũng không còn là đàn ông nữa. Bởi vậy không có người đàn ông nào lại không quan tâm đến bộ phận sinh dục của mình.[12] Không những quan tâm, họ còn, một mặt, lo lắng bảo vệ nó, từ đó, nói theo Sigmund Freud, nỗi lo lắng bị thiến hoạn (castration anxiety) trở thành một nét đặc trưng trong tâm lý nam giới, và hơn nữa, của con người nói chung; mặt khác, họ lại hết sức tự hào về nó: với nó, người ta được xem là có nam tính, một cái gì khác với nữ giới, hơn nữa, cũng lại nói theo ngôn ngữ của Freud, còn là điều làm cho phái nữ phải “ghen tị” (penis envy).[13] Ở dạng rút gọn nhất, có thể định nghĩa: đàn ông = con cặc. Ðó là lý do tại sao ngày xưa, ở Trung Hoa, một trong những hình phạt nặng nề nhất là... thiến; và cho đến tận ngày nay, ở Việt Nam, một trong những lời rủa độc địa nhất và quen thuộc nhất là bị chó ăn mất cu hay bị gà mổ mất dái.[14] Ðó cũng là lý do tại sao, cho đến bây giờ, ở nhiều bộ lạc, bọn đàn ông vẫn còn tròng bộ phận sinh dục của họ vào những cái ống được trang trí thật lộng lẫy rồi treo ngược lên trên bụng như một biểu tượng của quyền lực.
Vâng, cặc chính là biểu tượng của quyền lực.
Artemidorus, một học giả cổ đại Hy Lạp, trong cuốn The Interpretation of Dreams, xem bộ phận sinh dục của nam giới như sự diễn tả các mối quan hệ chằng chịt nhằm xác định vị thế của cá nhân trong xã hội: nó nói lên tài sản, địa vị, đời sống chính trị, gia đình, sức mạnh về thể chất cũng như sự kính trọng trong cộng đồng. Michel Foucault, trong cuốn The Care of the Self, tức tập ba của bộ The History of Sexuality, sau khi trích dẫn Artemidorus, cho con cặc nằm ngay ở vị trí giao điểm của các trò chơi quyền lực của các chủ nhân ông: với nó, người ta tập thói quen tự chủ, tự kiềm chế, không cho phép mình buông thả theo bản năng; người ta cũng xác định được ưu thế của mình trên người phối ngẫu bằng khả năng đâm thọc và xuyên thấu; người ta cũng xác định được thế đứng của mình trong xã hội vì nó gắn liền với các yếu tố truyền giống và dòng họ, v.v…[15]
Trong nghệ thuật cổ đại và trung đại, từ hội hoạ đến điêu khắc, trong khi hình ảnh khoả thân của phụ nữ xuất hiện tương đối muộn và thường gắn liền với cái nhìn mang dục tính; hình ảnh khoả thân của nam giới xuất hiện rất sớm, được xem là biểu tượng của sự sinh sản, của cái đẹp và nhất là của hùng tính. Ðể bảo vệ hùng tính như một đặc quyền của nam giới, các nghệ sĩ ngày xưa đã tước đoạt của nữ giới một điều mà trên thực tế họ cũng sở hữu: lông. Trong hầu hết các bức tranh phụ nữ khoả thân thời trước, bộ phận sinh dục bao giờ cũng trắng ngần, trong veo, như là ngọc, tuyệt không một sợi lông. Tại sao? Tại người ta cho lông lá là thuộc tính của phái nam.[16] Nam tính, hùng tính, do đó, đồng nghĩa với quyền lực.
Theo một số nhà hậu cấu trúc luận, đặc biệt các nhà nữ quyền, cả nền văn minh Tây phương - và có lẽ không phải chỉ có nền văn minh Tây phương mà thôi - được xây dựng trên một cột trụ chính: dương vật. Người ta gọi đó là một thứ chủ nghĩa duy dương vật (phallocentrism), ở đó, dương vật được xem như là một quyền lực, một trung tâm, một chuẩn mực, một thứ hệ quy chiếu được dùng để đo lường và đánh giá mọi sự vật và hiện tượng khác. Theo cách nhìn duy dương vật, loài người là những kẻ có… dương vật (bởi vậy “man”, đàn ông, mới đồng nghĩa với nhân loại nói chung, “mankind”); phụ nữ bị xem là những kẻ khuyết dương vật, nói theo chữ của Simon de Beauvoir, chỉ là “giống thứ hai”, hay nói theo Freud, những kẻ lúc nào cũng sống trong tâm trạng ghen tị và thèm thuồng.[17] Cấu trúc với những mở - cao trào – và kết thúc vốn được xem là mẫu mực trong truyện và kịch truyền thống xuất phát từ kinh nghiệm tình dục của nam giới: khi họ đạt đến tình trạng sướng ngất cũng là lúc kết thúc mọi “xung đột” và mọi vấn đề.[18] Thậm chí, theo Iris Marion Young, hình ảnh một đôi vú đẹp cũng được quy chiếu từ hình ảnh của dương vật: chiếc vú đẹp phải giống dương vật, nghĩa là, phải cao, chắc và nhọn, v.v…[19]
Ở Việt Nam, biểu hiện có khác nhưng thực chất cách nhìn cũng vậy.
Nhớ một truyện tiếu lâm ngày xưa: Một hôm, một con cọp đến rình rập quanh một mái nhà tranh lụp xụp cạnh một khu rừng. Nó nghe hai vợ chồng trong nhà chuyện trò. Người chồng hỏi: “Nghe nói dạo rày cọp hay ra bắt người lắm, mình có sợ không?” Người vợ đùa, bỗ bã: “Cặc còn không sợ, sợ gì cọp.” Con cọp không hiểu “cặc” là gì nên rất đỗi hoang mang. Nó nghĩ thầm: Đó hẳn là một con vật gì ghê gớm lắm, nhất định là ghê gớm hơn cả cọp. Từ hoang mang đến sợ hãi, nó lặng lẽ bỏ đi. Trên đường, tình cờ nó gặp một bà già. Bà già kinh hoàng, ngồi thụp xuống và co rúm người lại, nhưng con cọp trấn an: “Ðừng sợ. Tôi không ăn thịt bà đâu. Tuy nhiên, bà phải thành thực trả lời tôi câu hỏi này: Con cặc là con gì mà nghe nói còn ghê gớm hơn cả cọp thế?” Bà già nhanh trí, hiểu ngay, bèn trả lời: “Ối dào, ông ấy khủng khiếp lắm. Ông ấy cắn tôi một cái mà đến nay đã mấy chục năm rồi vết thương vẫn chưa lành”. Nói xong, bà lấy tay quẹt vào dưới đáy quần rồi dí vào mũi con cọp. Con cọp ngửi mùi, phát khiếp, phóng chạy như bay, tự nhủ: “Ðộc thật! Nguy hiểm thật!”
Lại nhớ, Nguyễn Thiện Kế, nhà thơ trào phúng nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20 và cũng là anh rể của Tản Ðà, có hai câu thơ tả cảnh hộ đê ở miền Bắc:
Trên đê cụ lớn văng con cặc
Dưới đất thầy cai thượng cẳng tay.
“Văng cặc” là đặc quyền của tầng lớp bên trên. Chỉ có những người có quyền lực mới được văng cặc. Ðứng trước vua quan ngày xưa, bọn thường dân mà dám văng cặc thì thế nào cũng bị chặt đầu hoặc chết mòn trong tù ngục. Ðủ thấy những cái gọi là taboo - những điều cấm kỵ - cũng có tính giai cấp: chúng chỉ áp dụng đối với tầng lớp dưới của xã hội mà thôi. Chính vì thế, việc văng cặc, và từ đó, việc văng tục nói chung, đã biến thành một hành vi thách thức và khiêu khích mạnh mẽ và táo bạo nhất: chúng thách thức và khiêu khích với chính quyền lực. Văng cặc, do đó, trở thành một thái độ phản kháng và một sự nổi loạn.
Nên lưu ý là chính các quy phạm văn hoá cũng là một thứ quyền lực. Nổi loạn để chống lại các quy phạm văn hoá ấy là một hiện tượng thường xảy ra không những trong đời sống, đặc biệt ở giới trẻ,[20] mà còn cả trong văn học, đặc biệt ở những giai đoạn tính chất cũ kỹ và sáo mòn đã nặng nề đến mức gần như không thể chịu đựng được nữa.
Chính trong cái không khí ngột ngạt, nặng trĩu những công thức và giáo điều, những sự mệt mỏi và sợ hãi như thế, một tiếng “cặc” vang lên sang sảng, nghe rất... đã.

Tuy nhiên, tôi viết bài này không phải chỉ để biện minh cho cái “đã” ấy. Chắc bạn đọc cũng hiểu.

Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc
Nguồn: