Chúng tôi không bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách
là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một
phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều
này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.
Hai câu 5 và 6 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan vẫn được
các nhà nghiên cứu và các nhà biên soạn có uy tín ghi là:
Nhớ nước đau
lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Nhưng gần đây ở trên mạng, có nhiều trang lại ghi chữ thứ sáu và chữ
thứ bảy của câu 6 thành “da da”. Vì vậy nên đã phát sinh vấn đề: phải viết hai
chữ này với d- (“da da”) hay gi- (“gia gia”) thì mới đúng?
Xin khẳng định ngay một cách dứt khoát rằng nếu viết với gi- thành “gia
gia” thì “cái gia gia” sẽ là một cấu trúc hoàn toàn vô nghĩa. Các nhà có uy tín
kia đã không biết, hoặc ít nhất cũng không để ý, rằng ba tiếng cuối của câu 5
(con X X) và ba tiếng cuối của câu 6 (cái Y Y) trong bài thơ tạo thành hai ngữ
danh từ chỉ hai giống chim chứ hai tiếng cuối của mỗi câu (mà họ viết thành
“quốc quốc” và “gia gia”) tuyệt đối không phải là những từ tượng thanh
(onomatopoeia). Ở đây Bà Huyện nói về hai giống chim, như ai nấy đều có thể
biết một cách hoàn toàn dễ dàng và tự nhiên: con trong câu 5 thì đau lòng vì
nhớ nước còn con trong câu 6 thì mỏi miệng vì thương nhà. Vậy thì con trong câu
6 là con gì? Thưa đó là con đa đa và chính vì đây là con đa đa nên
chúng tôi xin trả lời rằng nếu bất đắc dĩ phải chọn lựa giữa “gia gia” và “da
da” thì chúng tôi sẽ chọn cách viết thứ hai vì những lý do sau đây:
Ngữ âm học lịch sử đã cho phép khẳng định rằng trong một số trường hợp
nhất định thì Đ [d] và D[z] từng có chung một nguồn gốc (Xin x., chẳng hạn,
Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục,
1995, tr. 63; hoặc Lê Văn Quán, Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1987, tr.105). Chính vì thế nên cho đến hiện nay, ta vẫn còn thấy
được những lưu tích về mối tương ứng “Đ ~ D” giữa phương ngữ miền Bắc với
phương ngữ miền Nam hoặc giữa phương ngữ Bắc Trung bộ với ngôn ngữ toàn dân.
Cái đĩa ở miền Bắc là cái dĩa ở trong Nam; còn cây da ở trong Nam thì miền Bắc
lại gọi là cây đa. Đặc biệt, cái bánh đa ở ngoài Bắc đã từng được
gọi là bánh da ở trong Nam (còn bây giờ đã được thay bằng “bánh tráng”). Bằng
chứng sớm nhất mà ta có thể có được về cách gọi này ở trong Nam là mục từ “bánh
da” trong Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre
Pigneaux de Béhaine, rồi sau đó là mục từ cùng tên, trong quyển từ điển cũng
cùng tên (1838) của J.L. Taberd. Nhưng có lẽ lại càng đầy tính thuyết phục hơn
nữa là cho đến 1895, Huình- Tịnh Paulus Của vẫn còn giảng trong Đại Nam
quấc âm tự vị, tome I: “Bánh da: Bánh tráng.”
Trở lên là nói về mối quan hệ “Đ (Bắc) ~ D (Nam)”. Còn về quan hệ giữa
Đ của Bắc Trung bộ với D của tiếng Việt toàn dân thì ta cũng có thể tìm thấy
trong Phương ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1997) rất nhiều dẫn chứng: - đa đẻ ~ da dẻ, - (màu) đà ~ (màu) dà,
- đạ đày ~ dạ dày, - đám ~ dám (trong dám nghĩ dám làm), - đao ~ (con) dao, -
đày ~ dày (trong dày mỏng), v.v..
Trở lại với mối tương ứng “Đ (Bắc) ~ D (Nam)”, ta đã có “đa (Bắc) ~ da
(Nam)” đến hai lần, một lần với tên của một giống thực vật, một lần với tên của
một loại thực phẩm. Nguồn gốc chung của hai cách phát âm này đã tồn tại trong Từ
điển Việt – Bồ – La (Roma, 1651) của Alexandre de Rhodes. Trong quyển từ
điển lấy tiếng Đàng Ngoài làm nền tảng này, cả da trong da thịt lẫn
đa trong cây đa (của miền Bắc) đều được ghi là dea. Vậy nếu mượn cách ghi của
A. de Rhodes làm ký hiệu, ta có thể nói rằng trước 1651 thì, đối với những từ
đang xét, tiền thân của Đ và D đều là DE. Chính vì mối quan hệ này giữa Đ và D
nên chúng tôi mới chủ trương viết da da (chứ không phải “gia gia”) để ghi tên
con đa đa, nếu bất đắc dĩ phải lựa chọn. Nhưng với chúng tôi thì chữ của Bà
Huyện Thanh Quan cũng không phải “da da” mà hẳn hoi là đa đa. Và hai câu thơ
đang xét trong bài Qua đèo Ngang là:
Nhớ nước đau
lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái đa đa.
Chúng tôi chủ trương như trên, còn bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh thì
không tán thành nên đã viết trên Hồn Việt 18 (12-2008) như sau:
“Tôi không đồng ý vì tuy bà (Huyện Thanh Quan - AC) người miền Bắc
nhưng chắc gì bà biết hết tên các loài chim để mà đổi “da da” thành “đa đa”,
theo phát âm của người miền Bắc? Bà đi qua Đèo Ngang nghe tiếng chim hót thì
hỏi dân địa phương, người ta bảo là “da da” thì bà gọi theo là “da da” chứ bà
không biết quốc ngữ cũng không học ngôn ngữ học nên không thể biết “d” và “đ”
cùng một gốc. Mặt khác, bà thành thạo làm thơ thất ngôn bát cú có
đối chọi nên có thể đã “chơi chữ” với cách phát âm tên hai loài chim, “quốc”
hay “cuốc”, “da” hay “gia” bà không phân biệt được.” (tr.61).
Xin trân trọng thưa lại với bà Chân Quỳnh như sau. Xưa nay, khắp nước
Việt Nam, không có địa phương nào gọi con đa đa, còn có tên là gà gô, bằng cái
tên “da da” cả. Từ điển Việt- Bồ- La (1651) của A. de Rhodes lấy
tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773)
của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng, rồi phương ngữ
Bắc Trung Bộ là nơi còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa, đều ghi hoặc gọi là đa đa.
Tiếng Nguồn ở Quảng Bình, một ngôn ngữ cùng gốc (Việt-Mường) với tiếng Việt
(Kinh), cũng gọi giống chim này là đa đa. Đây là một bằng chứng chắc chắn để
phủ nhận hai tiếng/chữ “da da”. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là ai cũng
biết, tuy về hình thức, Qua đèo Ngang có những câu thơ tả cảnh nhưng thực chất
đây là một bài thơ trữ tình. Làm thơ trữ tình thì “rút gan rút ruột” ra mà làm
chứ còn đợi đi hỏi ai. Điểm thứ ba là, không riêng gì Bà Huyện, mà cả ông bà ta
ngày xưa nữa, tuy không biết chữ quốc ngữ, cũng không học “ngôn ngữ học”, nhưng
vẫn có cách để phân biệt d- với gi-, d- với r-, ch- với tr-, v.v., trong khi
sáng tạo chữ Nôm. Đó là ngôn ngữ học “tự nhiên nhi nhiên” của họ đấy! Điểm thứ
tư là con cuốc cuốc và cái đa đa, theo cách hiểu và cách ghi của chúng tôi,
cũng rất “đối chọi” theo đúng luật thơ Đường chứ đâu phải là không. Đối nhau
chan chát ấy đi chứ! Và cuối cùng là tuy Bà Huyện có quyền “chơi chữ” nhưng bà
không được quyền bóp méo từ ngữ: cái đa đa là cái đa đa, chứ dứt khoát không
thể thành “cái da da”, càng không thể là “cái gia gia”.
Tiếp theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh, trên Hồn Việt 19
(01-2009), ta lại thấy xuất hiện ý kiến của ông Nguyễn Quảng Tuân với lời dẫn
của ban biên tập: “Học giả An Chi (…) bằng vốn kiến thức ngữ học uyên bác của
mình, đã bàn về gia gia - quốc quốc. Nhưng đây không phải là chuyện ngữ âm học
lịch sử thuần tuý, mà là thơ, lại là thơ luật Đường… nên học giả Nguyễn Quảng
Tuân đưa ra một cách tiếp cận khác.” Vậy đâu là “cách tiếp cận khác” của ông
Nguyễn Quảng Tuân? Ông chẳng đưa ra cách tiếp cận nào khác của riêng mình cả.
Ông chỉ dẫn ra ý kiến của Nguyễn Văn Ngọc trong Nam thi hợp tuyển và
của Lý Văn Hùng trong Việt Nam văn chương trích diễm (Sài Gòn, 1961)
rồi kết luận: “Chúng tôi nhận thấy, như mọi người từ trước đến nay, kể cả các
vị có uy tín, đều cho rằng “quốc quốc” và “gia gia” chỉ là một cách chơi chữ
thôi nên hai câu luận trong bài Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan
nên chép là:
Nhớ nước đau
lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
cho thích hợp với ý văn và phép đối trong câu thơ thất ngôn bát cú.”
Trở lên là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân còn dưới đây
là nhận xét của chúng tôi, trước nhất là về phần ông trích dẫn Lý Văn Hùng, đặc
biệt là về lời dịch của họ Lý đối với hai câu thơ đang xét. Hai câu này đã được
Lý Văn Hùng dịch thành:
Ưu quốc thương
hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia.
Dụng ý của ông Nguyễn Quảng Tuân là dựa vào mấy tiếng “gia gia” của họ
Lý để củng cố cho cách chép mà ông đưa ra trong phần kết luận. Nhưng ông đã
nhầm. Hai cấu trúc con quốc quốc và cái gia gia (Xin cứ tạm chép như thế) trong
lời thơ của Bà Huyện là những ngữ danh từ, trong đó quốc quốc và gia gia là
danh từ (vì là tên của hai giống chim), còn hai cấu trúc hô quốc quốc và khiếu
gia gia trong lời dịch của Lý Văn Hùng là những ngữ vị từ, trong đó quốc quốc
và gia gia là từ tượng thanh. Hai bên đã khác nhau một trời một vực như thế mà
ông lại muốn lấy hai tiếng tượng thanh gia gia để chứng minh cho sự đúng đắn(?)
của danh từ “gia gia” trong câu thơ tiếng Việt sao được? Việc ông Nguyễn Quảng
Tuân trích dẫn Lý Văn Hùng ở đây là một việc làm không thích hợp vì hoàn toàn
không có tác dụng “làm chứng” cho hai tiếng “gia gia” (tiếng Việt) mà ông chủ
trương.
Còn việc trích dẫn Nguyễn Văn Ngọc thì sao? Cũng chẳng có giá trị gì
hơn vì tác giả này cũng chỉ diễn giảng trên cơ sở của hai tiếng “gia gia” là
hai tiếng mà chính chúng tôi đang phản bác. Chỉ khi nào Nguyễn Văn Ngọc chứng
minh được rằng “gia gia” là một cái tên có thật của một giống chim và là một
hình thức chính tả chuẩn dùng để ghi cái tên đó thì chừng đó những lời diễn
giảng của ông may ra mới có giá trị. Xin nói cho rõ thêm một chút nữa như sau.
Chỉ khi nào chỉ với hình thức chính tả “gia gia” mà tác giả vừa chỉ được giống
chim cần nói đến, lại vừa chỉ được khái niệm “nhà cửa”, “gia đình” thì chừng đó
ta mới thực sự có hiện tượng chơi chữ. Đằng này… người ta phải bóp méo từ ngữ
để cho có thể có được một cái âm với một cách ghi gợi lên cái ý “nhà” thì chơi
chữ là chơi… như thế nào? Cách ghi méo mó này không có bất cứ lý do ngữ học và
văn cảnh nào để tồn tại cả. Chẳng qua vì nó đã lưu hành ngót nghét hằng thế kỷ
nên nhiều người mới không đành lòng gạt bỏ đó mà thôi. Nhưng cũng có người
không cần biết đến nó mà cứ ghi thẳng hai chữ đa đa vào câu thơ của Bà Huyện,
chẳng hạn GS Đỗ Quang Vinh trên www.khoahoc.net (ngày 26.4.2007). Các nhà có uy
tín kia đã bị cái thế đối “quốc quốc - gia gia” mơn trớn và ru ngủ nên cũng
chẳng cần biết rằng từ vựng tiếng Việt không hề có danh từ “gia gia” với tính
cách là tên của một giống chim mà hệ động vật của Việt Nam cũng chẳng có giống
chim nào tên là “gia gia”. Tóm lại, ta tuyệt đối không thể có “ý văn” hay nếu
nó được diễn giảng từ những từ ngữ bị bóp méo. Chơi chữ mà lại bóp méo từ ngữ
thì còn chơi cái gì?
Cuối cùng xin nói cho rõ ràng rằng chúng tôi đã không hề bàn đến hai
tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử
thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn
học có một mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói
đến từ lâu.
An Chi
Nguồn: VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG ĐƯƠNG
THỜI, Từ chữ đến nghĩa số 2/2009

0 bình luận :
Post a Comment