TÊN GỌI
Quốc âm tân tự (chữ Hán: 國音新字) là một loại chữ viết biểu
âm. Tên gọi “Quốc âm tân tự” có nghĩa là chữ ký âm của tiếng nói quốc gia.
[Ở đây có một câu hỏi: Tại sao không phải là “quốc ngữ” mà lại
là “quốc âm”? - Jeff]
TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH
RA ĐỜI
Dự thảo Quốc âm tân tự hiện còn hai bản viết tay cổ (mỗi bản
có bốn tờ) của cùng một văn bản viết về loại chữ này đang được lưu giữ tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam. Trong văn bản Quốc âm tân tự không có thông tin
cho biết ngày tháng năm cụ thể tác phẩm này được viết ra. Căn cứ vào việc trong
lời tựa của tác phẩm chữ “華” (hoa) trong tên gọi “中華”
(Trung Hoa) đã được tị huý bằng cách bỏ không viết nét cuối của chữ này (nét sổ)
thì có thể đoán rằng văn bản này được viết dưới thời vua Thiệu Trị (Mẹ vua Thiệu
Trị tên là “Hồ Thị Hoa” 胡氏華). Cuối lời tựa của văn bản có dòng chữ “五星聚斗南城居士阮子書”
(Ngũ Tinh Tụ Đẩu Nam thành cư sĩ Nguyễn tử thư). Qua dòng chữ này có thể biết rằng
tác giả của Quốc âm tân tự là một cư sĩ mang họ Nguyễn (阮) ở
thành Nam Định (南定) có biệt hiệu là Ngũ Tinh Tụ Đẩu (五星聚斗).[9]
NỘI DUNG
Quốc âm tân tự có 22 “cán tự” 幹字 và
110 “chi tự” 枝字. Cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu, chi tự dùng để ghi
vần. Mỗi cán tự đều được đặt tên bằng một từ mang vần “ông” có phụ âm đầu là phụ
âm đầu mà cán tự đó biểu thị, ví dụ như cán tự biểu thị phụ âm “đ” được đặt tên
là “đông”. Quốc âm tân tự không phân biệt “d” và “gi” như chữ quốc ngữ. Có một
cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu /ʔ/, cán tự này được đặt tên là “ông”.[10]
Tác giả của Quốc âm tân tự đã dùng bốn nét bút là ngang (一), sổ (丨), chấm
(丶),
phẩy (丿)
(nét phẩy còn có biến thể là “㇏”) để tạo
nên các cán tự và chi tự. Không phải chữ đơn nào cũng có đủ bốn nét bút kể, có
những chữ đơn chỉ có chứa hai hoặc ba nét bút nhưng dù một chữ đơn có bao nhiêu
nét bút thì tổng số nét, không phân biệt loại nét bút, trong chữ đơn đó đều là
bốn.[11]
Quốc âm tân tự sử dụng cách phân chia thanh điệu truyền thống,
thanh điệu được chia thành bốn loại là “bình” 平, “thướng”
上,
“khứ” 去,
“nhập” 入.
Mỗi loại lại được chia ra thành hai bậc “âm” 陰 và “dương” 陽.[12] Tổng
cộng có tám thanh là:[12]
“Âm bình” 陰平: là thanh ngang theo cách gọi ngày
nay.
“Dương bình” 陽平: là thanh huyền theo cách gọi ngày
nay.
“Âm thướng” 陰上: là thanh hỏi theo cách gọi ngày
nay.
“Dương thướng” 陽上: là thanh ngã theo cách gọi ngày
nay.
“Âm khứ” 陰去: là thanh sắc ở các từ mà khi viết
bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương khứ” 陽去: là thanh nặng ở các từ mà khi viết
bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Âm nhập” 陰入: là thanh sắc ở các từ mà khi viết
bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương nhập” 陽入: là thanh nặng ở các từ mà khi viết
bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
Các thanh thuộc bậc âm được ghi bằng một dấu nhỏ hình nửa
vòng tròn, các thanh thuộc bậc dương được ghi bằng một dấu nhỏ hình vòng tròn.
Để biểu thị thanh bình, dấu thanh được đặt bên cạnh “chân trái” của chữ, với
thanh thướng dấu thanh được đặt bên canh “vai trái” của chữ, với thanh khứ dấu
thanh được đặt bên cạnh “vai phải” của chữ, với thanh nhập dấu thanh được đặt
bên cạnh “chân phải” của chữ.[12]
Jeff - Sưu tầm từ wikipedia và tài liệu trôi nổi.

0 bình luận :
Post a Comment