Mình
vốn không biết chữ Hán nhưng phải cái tội giời đày nên hay cố công tìm hiểu.
May nhờ có W.H. Gates tiên sinh, mình được dùng máy vi tính và internet. Lại
nhờ có Đặng Thế Kiệt tiên sinh chế nên phần mềm Từ điển Hán Việt Thiều
Chửu mà mình có công cụ để khám phá những điều lý thú trong cõi học.
Hôm
nay, trong quá trình tìm hiểu xem Ức Trai tiên sinh tham gia Nghĩa quân Lam Sơn
từ bao giờ, thấy Vua Lê Thái Tông chú trong một bài thơ như sau: “Thừa chỉ
Quan Phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai đậu khoa bảng từ đời Hồ. Khi Thánh Tổ
mới mở cơ nghiệp, theo về nơi Lỗi Giang, ....” Tò mò, mình tìm tiếp bản
nguyên tác của bài thơ và sử dụng Thiều Chửu để đọc.
Thời
phổ thông, mình được học “Ức Trai tâm
thượng quang khuê tảo” nghĩa là “Tấm
lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê buổi sớm”. Với vốn từ Hán – Việt nghèo nàn,
mình vẫn đinh ninh “Khuê” là sao Khuê, “tảo” là sớm (như kiểu “tảo hôn”). Dĩ
nhiên mình chẳng lăn tăn gì cho đến hôm nay. Thiều Chửu từ điển cho biết:
奎:khuê
1:
Sao khuê, một ngôi sao trong nhị thập bát tú. Nhà thiên văn ngày xưa cho sao
khuê chủ về sự văn hoá, cho nên nói về văn vận hay dùng chữ khuê.
藻:tảo
1:
Rong, rau bể, tên gọi tất cả các thứ cỏ mọc ở dưới nước.
2:
Rong là một thứ cỏ mọc dưới nước có văn vẻ đẹp, cổ nhân dùng để trang sức mũ áo
cho đẹp, cho nên cái gì dùng làm văn sức đều gọi là tảo. Như từ tảo 詞 藻 lời
đẹp, cũng viết là 辭. Lấy lời tốt đẹp mà khen lao người gọi là tảo sức 藻 飾.
Bình luận nhân vật gọi là phẩm tảo 品 藻 hay
tảo giám 藻 鑑.
Căn
cứ vào đó, "tảo" hoàn toàn không phải là sớm. “Khuê" trong câu
phải được viết thường vì "khuê tảo” là từ ghép chỉ văn chương nói chung.
Hơn nữa, chiếu theo luật Đường thi, thể thất ngôn bát cú, thì “khuê tảo” cũng
phải là từ ghép mới đối được với “giáp binh = áo giáp và binh khí” ở câu sau.
Đến
đây thì mình cảm thấy hiểu câu này thật vô cùng khó khăn dù đã làm rõ “khuê
tảo” là văn chương. Thử đặt trong mối tương quan với câu tiếp sau: “Vũ Mục hung
trung liệt giáp binh”. Trong đó,
Ức
Trai, hiệu của Nguyễn Trãi, đối với Vũ Mục, thụy của Lê Khôi;
“Tâm
thượng = Trong trái tim” đối với “Hung trung = Trong tâm trí”;
“Khuê
tảo” đối với “Giáp binh” như trên đã nói;
Riêng
“Quang” đối với “Liệt” thì phải hiểu thế nào?
Vẫn
Thiều Chửu từ điển cho biết:
列: liệt
1:
Hàng lối, cái gì xếp một hàng thẳng gọi là hàng 行,
xếp ngang gọi là liệt 列.
光: quang
1:
Sáng, các nhà khoa học bây giờ nghiên cứu cái nguyên lý về bóng sáng, chất sáng
gọi là quang học 光 學 .
2:
Vẻ vang. Như quang lâm 光 臨 , quang giáng 光 降 người
ta tới đến mình là vẻ vang cho mình.
3:
Rực rỡ. Như quan quang thượng quốc 觀 光 上 國 xem
cái văn minh của nước giỏi. Như đã đọa vào nơi tối tăm lại khôi phục lại rực
rỡ, đã thua mất thành mất nước lại đánh lấy lại được gọi là quang phục 光 復 .
4:
Bóng, vật gì mài giũa kỹ sáng bóng gọi là quang.
5:
Hết nhẵn.
Vậy,
“liệt” là tự động từ mang nghĩa “xếp”. “Quang” cũng là tự động từ (Cảm ơn anh
Nguyễn Ngọc Khanh đã hỗ trợ ý này) mang nghĩa chiếu sáng, làm vẻ vang, chiếu
rực rỡ.
Căn
cứ các điểm trên, hai câu này có thể hiểu như sau:
Văn
chương soi sáng trong lòng Nguyễn Trãi
Giáp
binh xếp đầy trong bụng Lê Khôi
Kết
luận: Câu “Vũ Mục hung trung liệt giáp binh” nhằm ca ngợi tài năng quân sự
của Lê Khôi; câu “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” nhằm ca ngợi tài năng văn
chương của Nguyễn Trãi. Ở đây tuyệt đối không đề cập đến nhân cách hay đạo đức
của bất kỳ ai cả.
Nguyên
tác
君明臣良
高帝英雄蓋世名,
文皇智勇撫盈成。
抑齋心上光奎藻,
武穆胸中列甲兵。
十鄭第兄聯貴顯,
二申父子佩恩榮。
孝孫洪德承丕緒,
八百姬周樂治平。
Âm
Hán Việt
Quân
minh thần lương
Cao
Đế anh hùng cái thế danh,
Văn
Hoàng trí dũng phủ doanh thành.
Ức
Trai tâm thượng quang khuê tảo,
Vũ
Mục[1]
hung trung liệt giáp binh.
Thập
Trịnh đệ huynh liên quý hiển,
Nhị
Thân phụ tử bội ân vinh.
Hiếu
tôn Hồng Đức thừa phi tự,
Bát
bách Cơ Chu lạc trị bình.
Hàn Giang
[1] Ghi chú của Lê Thánh Tông, tác giả: Tư mã Lê
Khôi, thuỵ là Vũ Mục, cháu gọi Thái tổ Cao Hoàng đế bằng chú, thâm trầm hùng dũng,
tài lược hơn người, đánh quân Minh tới đâu được đấy, trấn thủ thành Thuận Hoá,
người Chiêm Thành khiếp sợ.
0 bình luận :
Post a Comment