Bảo rằng
Phong kiều dạ bạc[1] của
Zhang Ji (Trương Kế) là tuyệt phẩm thi ca dĩ nhiên rất thừa. Chuyện kể rằng xưa kia, Zhang tiên
sinh viết bài này khi ông trên đường về quê sau lần thi hỏng. Vậy nên, xuyên suốt
bài thơ là cảm giác mênh mông buồn.
Từ khi ra đời đến nay, có lẽ bài thơ
đã được hàng trăm, hàng ngàn người dịch. Có người dịch một bản, có người dịch
nhiều bản. Có người sử dụng thể lục bát, có người cố giữ nguyên thất ngôn tứ
tuyệt, lại có người phóng tác thành 8 câu lục bát như vị Ngọc Động sư huynh[2]
trên www.thivien.net.
Bản dịch theo thể lục bát thành công nhất lâu nay được cho là bản của cụ Nguyễn Hàm Ninh.
"Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San."
Dịch tiếng nước ngoài ra tiếng ta đã là một thử thách cam go rồi. Dịch thơ còn cam go gấp bội phần. Nhất là dịch từ những ngôn ngữ súc tích như tiếng Hán. Vậy nên, bản dịch của cụ Nguyễn tuy hay mà vẫn chưa mỹ mãn.
Ngay câu đầu tiên - khai, tiên sinh đã hạ một chữ "lạc" vô cùng đắt. "Nguyệt lạc", "lạc" là rơi nhưng không phải rơi đánh sầm phát như kiểu buông tay chày rơi xuống cối, cũng chẳng phải từ từ xế đỉnh non đoài. Lặn từ từ như thế e cũng tầm thường lắm lắm. Là lặn, là rơi đấy nhưng lãng đãng, phiêu bồng. Văn học China có câu: "Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu [梧桐一葉落, 天下共知秋]" – Tạm dịch: Ngô đồng rơi chiếc lá, thiên hạ ô kìa thu. Lá ngô đồng vốn to, khi rơi xuống, gặp luồng khí nóng phía dưới bốc lên thì chiếc lá không rơi thẳng được, cũng không rơi nhanh được mà nó chao qua, lượn lại, la đà thinh không rồi nhẹ nhàng đáp xuống. "Lạc" tinh tế đến dường ấy cơ mà. Trong văn học Việt, nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng đã từng miêu tả cái sự rơi tinh tế không kém: "Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng". Nhưng cụ Zhang hơn ở chỗ cụ dùng đúng một chữ.
Lại nói đến hai chữ tiếp theo "Ô đề". Đơn giản là quạ kêu, thế thôi. Nhưng trong cảnh nàng nguyệt la đà như thế, màn sương bàng bạc giăng trên bến thuyền như thế, cộng thêm khung cảnh tâm trạng như ở câu thừa (mà ta sẽ nói đến sau) thì cái tiếng quạ kêu đêm vắng ấy nó vừa thê lương, vừa thảng thốt. Buồn tênh những buồn! Cái khó ở chỗ, khi chuyển ngữ tiếng Việt, ta buộc phải chọn một trong số những "trăng lặn, trăng xế, trăng tà, trăng tàn, trăng xuống". Chấm hết! Lặn - xế - tà - tàn - xuống và xem như có cả “rơi” nữa đi thì vẫn không anh nào đượm tình bảng lãng như chữ "lạc". Mà một khi trăng không đượm tình, không phiêu lãng nữa thì tiếng quạ - dẫu có là hót đi chăng nữa - cũng chỉ là tiếng động khô khốc, thiếu trữ tình. Để dùng bảy chữ hoặc sáu chữ Việt mà mô tả được cảnh, được tình như bản gốc dường như là không thể nên cụ Nguyễn đành phải hy sinh đi một điều - ấy là cảnh sương giăng đầy trời. Cụ viết: Trăng tà chiếc quạ kêu sương. Chữ "chiếc" của cụ Nguyễn cũng là một chữ đắt. Chiếc là đơn độc, là cô lẻ. Nhờ chữ "chiếc" chứa đựng đầy tâm tư đó mà cảnh "trăng tà" của cụ bớt đơn điệu. Tiếc thay "chiếc quạ kêu sương" của cụ vẫn chỉ mới là quạ kêu trong đêm mà không thấy sương đâu. Hoặc giả có đi chăng nữa thì cũng không nhiều, không giăng kín trời, không se se lạnh, không tê tái lòng. Tuy vậy ở câu khai, bản dịch của cụ Nguyễn vẫn là vô địch thiên hạ.
Sang câu hai – thừa: Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên. Cái khó của câu này nằm ở hai nơi. Một là "phong", thứ cây ở ta không có. Tiếng Việt của ta mượn luôn âm Hán-Việt để chỉ loài cây này. Nhưng nếu để nguyên là phong thì một là dễ bị nhầm thành gió, hai là chẳng biết phải dịch chữ "giang" thành từ gì. Cấu trúc tổ hợp từ tiếng Việt không có phép dùng "sông phong/phong sông" để mô tả cây phong mọc cạnh bờ nước. Vậy nên, đa phần các dịch giả lựa chọn hoặc là "cây bến" hoặc là "cây bãi". Cũng như táo khuyết là biểu tượng của Apple, phong là loài cây mặc định cho mùa thu. Đánh rơi chữ “phong” là đánh rơi mùa thu. Vậy mà đấy chưa phải là chỗ khó nhất. Khó nhất phải kể là chữ "đối". Thử tưởng tượng anh học trò thi hỏng, nằm trên thuyền ở một bến sông lạ. Buồn, giấc ngủ chập chờn. Anh học trò nằm khoèo trên sạp thuyền nhìn mông lung. Đêm thì sâu thẳm, phía nọ bóng cây phong mờ ảo, đằng kia là ánh lửa leo lắt của một chiếc thuyền chài nào đó. Cứ thế, cứ nhìn nhau thế - phong - lửa - học trò - lửa - học trò - phong. Chẳng có gì để nghĩ nữa, thi rồi và hỏng rồi còn đâu. Chắc rằng, cảm giác sầu muộn có lẽ phải chất ngất đến thiên thu vạn tải. Mà tất cả cảm xúc đó đều nằm ở chữ "đối". Buồn - đối - buồn - đối - buồn! Chỉ một chữ "đối" mà Zhang lão tiền bối đã gieo tình vào vật, làm cho nỗi buồn vừa lan tỏa, vừa cộng hưởng. Khó thế, nên đến đây, cụ Nguyễn đành để rơi ngôi vô địch vào tay Nữ sĩ Bạch Liên với câu: “Đèn chài cây bến buồn lan khách đò”. Vì chưng, câu "Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ" của cụ vừa đánh rơi mất cây phong, vừa làm sai lạc ý tứ của câu. "Giấc hồ" hay "mộng hồ điệp" chủ yếu mang tính triết học, ta là bướm hay bướm là ta - là sự băn khoăn mà hàng ngàn năm nay chúng ta luôn tìm cách lý giải mà chưa được chứ hoàn toàn không dùng để tả sự buồn.
Hai câu cuối thì không có
chữ nào khó đến mức đấy nhưng không hiểu sao gần như tất cả các bản dịch khá và
hay đều dùng “bến Cô Tô” ở câu ba.
Trong khi đó, ngay từ nhan đề, Zhang tiên sinh đã chỉ rõ là Phong Kiều dạ bạc, tạm dịch: Đêm buông
neo ở bến Phong Kiều. Cô Tô vốn là tên ngôi thành được xây từ thời Xuân Thu dưới
đời nhà Ngô. Ngoài Cô Tô, nó còn có tên Tô Châu, Bình Giang Hạ, Ngô Hạ, Cối Kê
v.v. Tóm lại Cô Tô dứt khoát không phải tên bến thuyền. Câu bốn - hợp - lại có
sự lạ nữa. Ấy là nhiều dịch giả thống nhất dùng chữ “nghe” để dịch chữ “đáo”, tức
là chuyển một động thái chủ động của tiếng chuông chùa thành động thái thụ động.
Khi mô tả một người nghe tiếng chuông (Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San - NHN) thì đương nhiên người đó đang tỉnh.
“Đáo” trong tiếng Hán là động từ mang
nghĩa “đến, đi”. “Đáo” hay ở chỗ nhờ
tiếng chuông vẳng đến mà anh học trò đang chìm trong sầu muộn ấy giật mình tỉnh
lại. Tác giả ắt là rất tinh tế khi sử dụng một âm thanh mang tính thanh lọc và
từ bi để đánh thức chàng học trò. Ừ thì hỏng thi, ừ thì buồn bã. Nhưng thôi, tỉnh
lại đi, đời còn dài, thua keo này bày keo khác chẳng phải hơn sao!
Vậy nên, nếu được phép,
tôi sẽ giới thiệu bản dịch của Bạch Liên nữ sĩ cho câu hợp:
Quạ kêu, sương đổ, trăng
tàn
Đèn chài, cây bến buồn lan
khách đò
Hàn Sơn chùa nẻo Cô Tô
Nửa đêm chuông vọng đến bờ thuyền ai.
Nhưng mà, cũng như Phật
pháp vốn là để ngộ, thơ vốn là để cảm. Chẳng phải ngâm thơ là để chia sẻ tiếng
lòng của thi sĩ đấy sao.
Phạm Bằng Tiến
[1] Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
[2] "Quạ kêu, sương phủ đầy trời
Trăng tàn ru giấc mộng đời vấn vương
Bên sông, phong rũ... đượm buồn
Lửa chài hiu hắt... mộng trường cùng mơ
Thuyền người xuôi hướng Cô Tô
Nửa đêm thuyền ngoại dật dờ tiếng chuông
Hàn San đây bóng tự đường
Vẳng âm tiếng vọng vô thường thinh
không ..."

No comments:
Post a Comment