Monday, September 8, 2014

Đôi anda nổi tiếng nhất lịch sử


Chân dung Chinghiz Hãn được vẽ vào Tk 14

Trong ngôn ngữ Mongol, “anda” nghĩa là anh em kết nghĩa. Trong các văn bản tiếng Việt, anda thường được phiên âm là an đáp, xuất phát từ các văn bản tiếng China là 安答 /ān dá/. Trong không gian văn – sử Việt Nam, nhóm anh em kết nghĩa nổi tiếng nhất chính là Liu Bei, Guan Yu và Zhang Fei thời Tam quốc bên China; thứ nhì là đôi anh em Sun Wukong và Niu Mawang trong Tây du ký. Tuy nhiên, đặc biệt nhất, nổi tiếng nhất lịch sử thế giới phải là đôi kết nghĩa Temüjin – Jamukha, thường được biết với tên Thiết-mộc-chân và Trát-mộc-hợp. Nổi tiếng vì một người là Gurkhan (Cổ-nhi-hãn) của 13 bộ lạc, một người là Chinghiz Khan (Thành-cát-tư Hãn) lừng danh thiên cổ, người đã để lại cho hậu duệ của mình một lãnh thổ mênh mông[1] với hàng trăm sắc dân[2], hàng chục tôn giáo. Đặc biệt vì họ kết anda đến ba lần cùng vô số lần đánh nhau chí chết.
Theo Bí sử Mongol, Temüjin thuộc dòng dõi Gia tộc Hoàng kim. Tổ tiên chung của người Mongol là Borte Sino (Sói xám) và Gua[3] Maral (Hươu trắng xinh đẹp). Trải qua 20 đời với vô vàn khó khăn gian khổ và không ít lần vinh quang thì bộ tộc Mongol nói chung và tộc Kiyad của Temüjin bước vào kỳ suy thoái. Sau cái chết của cha của Temüjin là Yesükhei, người được bầu làm thủ lĩnh của tộc Kiyad nhưng không phải là Khagan (Khả-hãn) của Khamag Mongol[4], thì tộc Kiyad chính thức tan rã. Nguyên nhân chính của sự chia ly này là cuộc chiến giành giật ngôi vị Khagan giữa gia tộc Borjigin của Temüjin, gia tộc Tayichiud của Targudai và gia tộc Yürki của Sacha Bieqi. Cả ba đều thuộc dòng dõi của Khaidu Khan (Hãn), tức là dòng dõi Gia tộc Hoàng kim.
Trong khi đó, Jamukha là người của tộc Jadaran. Tuy cũng thuộc bộ tộc Mongol nhưng tộc Jadaran được cho là ngoại tộc. Cũng theo Bí sử Mongol, trong một cuộc chiến, ông tổ của bộ tộc Mongol là Bondochar đã bắt được một phụ nữ[5] mang thai. Bào thai đó chính là tổ tiên của tộc Jadaran.
Quyền lực là thuốc phiện dành cho đàn ông. Vậy nên, với xuất thân ngoại tộc, một người thông minh và nhiều tham vọng như Jamukha khó lòng chấp nhận cảnh một rừng hai hổ hay tệ hơn là phải ở dưới một ai đó – dù đó là người anh em kết nghĩa.
Cuộc chiến đầu tiên và kết giao lần một
Đấy là lần đôi bên cùng đi săn và cùng bắn trúng một con hươu. Cả hai đang ở tầm tuổi thiếu niên nhưng theo truyền thống của các bộ lạc du mục họ đã là những tay cung thiện xạ. Chuyện kể rằng Temüjin bắn trúng vào mông hươu. Bị đau, hươu chạy vào rừng và bị Jamukha bắn gục bằng một mũi tên xuyên thẳng vào đầu. Sau một hồi tranh cãi, cả hai đi đến quyết định con mồi sẽ thuộc về kẻ chiến thắng sau 3 hiệp đấu vật. Kết quả là Temüjin thắng hai lần và được quyền lấy hươu. Tuy nhiên, vì cảm phục trước trí thông minh cùng lòng dũng cảm của Jamukha, Temüjin đề nghị cả hai kết làm anda và chia đôi con hươu. Hai cậu thiếu niên cầm lấy hai đầu mũi tên và cùng hướng lên Trời xanh[6] tuyên thệ: “Tôi là Temüjin và tôi là Jamuka, nguyện cùng kết làm anda. Kể từ nay về sau, thề cùng sinh tử không bỏ nhau, vĩnh viễn sẽ không bao giờ làm trái lời thề!”
Jamukha trao cho Temüjin một tấm thạch bội làm bằng sừng hươu đực còn Temüjin trao cho người anh em mới tấm thạch bội bằng đồng để làm tin.
Kết giao lần hai
Lúc này, cả hai đã lớn hơn đôi chút. Yesükhei đã qua đời vì bị bộ tộc Tartar đầu độc và Temüjin trở thành trụ cột của gia đình 10 miệng ăn gồm 7 đứa trẻ và 3 người đàn bà. Kể ra, lần này cũng có một cuộc chiến nhưng là cuộc chiến tâm lý. Theo Chu Diệu Đình và Du Trí Tiên, tác giả của cuốn Thành-cát-tư Hãn thì Jamukha chính là người lợi dụng hiềm khích sẵn có, xúi dục Temüjin giết người anh em cùng cha khác mẹ của mình là Bekhter[7]. Trước khi cùng cậu em ruột Qasar truy tìm và bắn chết Bekhter, Temüjin và Jamukha đã cùng nhau thực hiện lại nghi thức kết giao.
Kết giao lần ba
Lúc này, nhờ sự giúp đỡ của nhà Sorgan-Shira, Temüjin vừa trốn khỏi nơi giam cầm của gia tộc Tayichiud[8]. Trên đường đi tìm lại gia đình thì gặp Jamukha. Khác với hai lần trước, lần này, Jamukha là người mở lời đề nghị thực hiện nghi thức kết anda một lần nữa và hứa sẽ giúp Temüjin khôi phục lại vị thế của Gia tộc Hoàng kim.
Cả hai cắm chín cọng cỏ xuống đất tượng trưng cho chín cây nhang rồi nắm tay vào hai đầu mũi tên, cùng hướng lên Trời xanh tuyên thệ: “Xin trời xanh chứng giám, tôi là Temüjin, còn tôi là Jamuka, cả hai nguyện kết làm anda. Từ nay về sau cùng đồng sinh đồng tử, không bao giờ bỏ nhau, có phúc cùng hưởng, gặp hoạn nạn cùng chia, nếu ai phản bội lại lời thề này thì trời đất không tha!”
Bắt đầu từ đây, Temüjin tiến bước trên con đường khôi phục vị thế gia tộc và thống nhất Mongol thành một quốc gia hùng mạnh. Ông hoàn toàn không ngờ được người anh em kết nghĩa sau này sẽ trở thành đối thủ chính trị và quân sự hùng mạnh mà ông buộc phải loại bỏ trên con đường đoạt lấy đỉnh cao quyền lực.
Cuộc chiến lần hai – Thoát hiểm trong gang tấc
Hơn một năm sau ngày giúp Temüjin tấn công bộ lạc Merkit, giành lại người vợ yêu Börte bị bắt trước đó, Temüjin và Jamukha chia tay. Mỗi bên chính thức xây dựng đoàn trại, khu chăn nuôi và lực lượng quân sự riêng.
Một thời gian sau, em trai của Jamuka là Daichar đã ngang nhiên cướp ngựa và giết chết tay chân của Temüjin, bắt buộc viên cận tướng của Temüjin là Jelme phải chống trả và chém chết Daichar. Mâu thuẫn bùng nổ. Jamukha tập hợp một liên minh 13 bộ lạc, bao gồm cả người Tartar, Naiman và người Tayichiud bao vây hòng tiêu diệt triệt để bộ lạc Kiyad.
May mắn sao, trong hàng ngũ của liên minh 13 bộ lạc có hai người vốn là bạn bè thân cận với gia đình Temüjin. Một là Monglik, người đã từng giúp đỡ Temüjin rất nhiều khi cha ông qua đời. Hai là Jurchedei[9] – chú họ của Temüjin. Hai người này đã ngầm thông báo kế hoạch tác chiến của Liên minh 13 bộ lạc đồng thời tạo điều kiện để Temüjin phá vây ở vị trí trận địa của họ.
Tuy giành được chiến thắng nhưng trận chiến này đã bôi một vết nhơ lên uy tín và khả năng thu phục nhân tâm của Jamukha. Khi trận chiến kết thúc, giận dữ trước việc không bắt sống được Temüjin, Jamukha đã ra lệnh luộc chín 70 tù binh người Chinos. Trong khi đó, dù thất bại nhưng sức mạnh của Temüjin lại tăng lên nhờ việc Monglik và Jurchedei xin gia nhập hàng ngũ.
Cuộc chiến lần ba – Tiêu diệt thế lực Jadaran
Năm 1201, thế lực ngày càng lớn mạnh của Temüjin đã gây không ít áp lực lên các bộ lạc khác, bao gồm cả những Đại Ulus[10] trên thảo nguyên. Trong bối cảnh đó, Jamukha một lần nữa đứng ra tập hợp liên minh nhằm tiêu diệt Temüjin và đồng minh của ông là bộ lạc Khereid do Toghrul Hãn[11] lãnh đạo. Thủ lĩnh của 12 bộ lạc đã cùng tuyên thệ, bầu Jamukha lên làm Gurkhan (Hãn của các Hãn) để thống nhất chỉ huy liên quân. Hàng vạn vó ngựa rậm rịch, hàng vạn chiến sỹ đằng đằng sát khí tưởng có thể ầm một phát như sét đánh ăn tươi nuốt sống lực lượng của Temüjin.
Tiếc thay cho Jamukha và may thay cho Temüjin, liên quân không thể ngờ được hai khuyết điểm lớn trong tác chiến tồn tại ngay trong lòng họ. Đó là không biết giữ bí mật quân sự và không phối hợp hành động.
Cần biết rằng, trước Temüjin, chiến tranh trên thảo nguyên chỉ phục vụ cho mục đích cướp bóc. Ngay khi tấn công và làm địch thủ hoảng hốt bỏ chạy, bên tấn công sẽ không lập tức tiến hành truy kích mà tập trung vào việc cướp phá lều trại, bắt tù binh làm nô lệ và cưỡng hiếp gái đẹp. Việc này không những làm cơ hội tiêu diệt triệt để kẻ thù trôi qua mà còn làm rối loạn đội hình và thậm chí, gây mâu thuẫn nội tại cho bên chiến thắng. Hơn nữa, liên minh của Jamukha là một đội quân ô hợp, chưa bao giờ phối hợp tác chiến diện rộng.
Cũng cần phải biết rằng, một trong các lực lượng thuộc liên minh là Olkunut – bộ lạc nhiều đời thông gia với tộc Kiyad. Người lãnh đạo lực lượng này trong liên minh lại chính là Dei Seichen – bố vợ của Temüjin. Không thể đứng yên nhìn chàng rể bị hại, Dei Seichen – thông qua gia đình Sorgan-Shira, người đã từng cứu thoát Temüjin năm nào – đã tuồn toàn bộ thông tin bố trí lực lượng và kế hoạch tác chiến cho Temüjin.
Chưa đầy một ngày giao chiến, liên quân đã tan rã hoàn toàn, vị Gur Hãn mới đắc cử dẫn tàn binh tháo chạy vào một hẽm núi và bị Jakha Gambhu của bộ lạc Khereid bắt sống. Theo đề nghị của Jamukha, ông ta được giao cho Temüjin toàn quyền định đoạt.
“Temüjin bứt đứt tấm thạch bội từ trên cổ của Jamuka xuống, rồi bứt đứt tấm thạch bội của mình đang mang nhập vào nhau, trao cho Jamuka:
- Tình bạn và hận thù, ân và oán giữa hai chúng ta hôm nay xem như đã thanh toán xong. Tôi sẽ nhờ Ong Khan, người anda của cha tôi thu dụng anh. Từ nay về sau, hy vọng chúng ta không trở thành thù địch, được không?”
Cuộc chiến lần bốn – Gur Hãn, vị thực khách lang thang
Làm thực khách nhà người chưa ấm chỗ thì vị Gur Hãn thất thế đã tìm cách xúi giục Ong Khan Toghrul gây chiến với Temüjin. Tranh thủ mối bất hòa giữa Senggum – con trai của Ong Khan và Temüjin, Jamukha cuối cùng đã đạt được mục đích. Vị Ong Khan già nua và ba phải đã chấp nhận leo lên lưng ngựa một lần nữa.
Năm 1203, bị bất ngờ trước đòn tập kích như sấm chớp từ phía đồng minh tin cậy, lực lượng của Temüjin nhanh chóng tan rã. Temülin – cô em gái duy nhất bị bắn chết. Cậu em trai Qasar cùng đám cận tướng như Bo’orchu, Borokhula mất tích. Vợ, con gái và hai con trai của Qasar bị Senggum bắt sống. Cậu con trai thứ ba – Ögedei – người sau này kế vị Temüjin bị thương nặng. Bản thân lực lượng chạy theo Temüjin chỉ còn 4.600 người.
Để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn, Temüjin ra lệnh nhanh chóng triệt thoái về phía đông đến vùng Hulunbuir. Jamukha dẫn quân ráo riết truy kích.
Lần này, chính sự ba phải của Ong Khan đã cứu Temüjin và quay lưỡi hái thần chết về chính ông ta. Để chăm sóc vết thương cho cậu con trai duy nhất Senggum và vì đánh giá quá thấp Temüjin, Ong Khan ra lệnh cho Jamukha dừng truy kích.
Trong quá trình này, mối bất hòa của cha con Ong Khan càng ngày càng dâng cao. Ong Khan, vì tình nghĩa xưa cũ với gia đình Temüjin, không muốn đuổi cùng giết tận. Senggum, lo sợ người con nuôi của cha mình chiếm mất địa vị sau này, chỉ mong giết chết Temüjin sớm ngày nào hay ngày ấy. Mặt khác, sau trận chiến, dù là bên thắng trận nhưng lực lượng của bộ tộc Khereid cũng bị tổn thất không nhỏ. Nhận thấy tình hình đó, Jamukha cùng với những người ủng hộ mình lập kế hoạch ám sát cha con Toghrul, tiêu diệt bộ lạc Khereid và tranh thủ lúc Temüjin bị suy yếu để xây dựng lực lượng hòng tranh chấp quyền thống trị thảo nguyên.
Không may cho ông ta, âm mưu bị bại lộ từ trong trứng nước. Trong khi cả đám đang bàn bạc thì bị lực lượng của Toghrul tập kích. Jamukha cùng đám đồng minh và vài trăm tùy tùng may mắn chạy thoát sang đầu nhập dưới trướng Tayang Hãn của bộ lạc Naiman.
Mùa thu năm 1203, sau một thời gian quy tập lực lượng thất lạc, chấn chỉnh đội ngũ, khôi phục sức mạnh, Temüjin phát động cuộc chiến với bộ lạc Khereid. Sử dụng chiến thuật ưa thích của mình, Temüjin phái con trai út của Qasar sang gặp Ong Khan khóc lóc xin cho cha mình đầu hàng với lý do Temüjin đã mất tích còn gia đình anh ta thì không nơi nương tựa. Ong Khan chấp nhận.
Đúng lúc Ong Khan đang bày tiệc đón Qasar thì đạo binh của Temüjin bất ngờ xuất hiện như trời giáng. Quá hoảng hốt, Ong Khan và Senggum cùng một số bộ hạ thân tín chỉ còn biết bỏ chạy. Toàn bộ lực lượng Khereid đầu hàng Temüjin.
Vài ngày sau, Toghrul Ong Khan bị lực lượng biên phòng Naiman giết chết. Senggum bỏ mặc cha mình gặp nạn, chạy về phía lãnh địa của dân Tangut; rốt cục bị chính tên lính giữ ngựa của ông ta đâm chết.
Đến đây, xem như Temüjin đã nắm trong tay 2/3 thảo nguyên. Các Đại Ulus như Khereid, Tartar, Merkit đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Tất cả các nhân vật chủ chốt bị giết chết, số dân còn lại bị Temüjin phân tán vào các đoàn trại Mongol và dần dần đồng hóa. Đối thủ duy nhất cản trở ước mơ thống nhất thảo nguyên của ông chỉ còn Naiman – một bộ lạc hùng mạnh và văn minh hơn nhiều.
Cuộc chiến lần năm – Lên trời trong túi da bò
Naiman là một bộ lạc lớn, có quốc gia, có triều đình, địa bàn thuộc vùng núi Altay, nằm về phía tây Mongol. Naiman không chỉ là vật cản cuối cùng trên con đường của Temüjin mà còn là nơi đang dung dưỡng những kẻ thù còn lại của Temüjin: Jamukha của bộ lạc Jadaran; Toqto’a và Hudu của bộ lạc Tartar; Quchar – anh họ và Altan – chú họ, những kẻ nhăm nhe tranh đoạt Hãn vị.
Sau khi thu nạp tập đoàn lưu lạc của Jamukha, Tayang Hãn, vị vua chưa bao giờ chinh chiến của Naiman và con trai ông ta – Kuchlug quyết định xuất quân chinh phạt Mongol. Nhằm tạo thế gọng kìm, Tayang Hãn sai sứ sang Onggud đề nghị bộ lạc này hợp tác. Onggud nguyên là một bộ lạc khá phát triển nằm ở đông nam Naiman và giáp giới với nước Jin. Onggud có mối liên hệ chặt chẽ với Jin cả về mặt chính trị lẫn quân sự, kinh tế.
Trước đây, do góp phần trừng phạt một số bộ lạc theo lệnh của Thừa tướng nước Jin là Wanyan Xiang, Temüjin đã từng được Wanyan Thừa tướng phong cho một chức quan nhỏ. Nhờ vào chi tiết này, người Onggud đánh giá Mongol là đồng minh thực sự. Tù trưởng Onggud là Ala-Qush[12] đã bắt sứ giả Naiman đồng thời cử sứ đoàn sang thông báo toàn bộ ý đồ của Naiman cho Temüjin.
Sau khi nhận được tin tức, Temüjin quyết định chủ động tấn công Naiman. Chính thời điểm này chứng kiến bước cải tổ quan trọng nhất của quân đội Mongol. Temüjin chính thức phá vỡ biên chế theo gia tộc, bộ tộc. Ông tổ chức quân đội thành từng nhóm 10 người gọi là Arban, mười arban tạo thành một Zuun, mười zuun là một Minggan, mười minggan là một Tümen.  Mùa thu năm 1204, sau khi vượt qua quãng đường dài từ Hulunbuir, mấy vạn người ngựa của Temüjin đã đến biên giới Naiman.
Hạ trại xong, Temüjin lệnh cho mỗi binh sĩ phải đốt năm đống lửa khi đêm xuống. Đêm đó vị Tayang Hãn vừa hùng hổ vừa nhát gan của Naiman hoảng hốt trước ánh lửa trùng trùng điệp điệp của quân Mongol nên đã lập tức ra lệnh cho Kuchlug và Sabolehei rút quân. Tuy nhiên, trước sự khích bác của Sabolehei và Kuchlug, Tayang Hãn cuối cùng vẫn xua quân tiến lên.
Sau một trận chiến ác liệt, quân Naiman bị đánh bại hoàn toàn. Tayang Hãn và Sabolehei tử trận. Thái tử Kuchlug[13] trốn thoát. Đám thực khách Jamukha bỏ chạy theo nhiều hướng khác nhau. Thời gian ngắn sau, Jamuka bỏ chạy tới vùng núi Tannu Ola và bị đám tùy tùng làm phản, bắt trói giao cho Jebe.
Khi Jebe áp giải tất cả về, Temüjin ngay lập tức xử tử đám tùy tùng của Jamukha vì tội phản chủ và đề nghị với Jamukha:
“- Vậy bây giờ hãy để những gì thuộc về quá khứ tan biến đi như mây khói và chúng ta trở thành đôi bạn như xưa. Trong Hãn quốc Mongol này anh chỉ dưới một mình tôi, nhưng anh trên hằng vạn người khác, được không?
Jamukha lắc đầu, đáp:
- Trong thời điểm có thể làm bạn với anh thì tôi lại không làm bạn, còn bây giờ anh đã thu gom bá tánh, đã dẹp yên tất cả bộ lạc, đại sự trong thiên hạ đã được định hình. Vậy tôi đâu thể tìm tới để làm bạn với anh. Vì nếu tôi làm như vậy, ngươi đời sau sẽ hiểu thế nào?!
Temüjin yên lặng đứng lên, rồi bước những bước khập khểnh đi tới một góc nhà. Ông ta ôm đầu ngồi xuống.
Jamukha nói:
- Anh hãy giết tôi đi!
Temüjin không có phản ứng. Jamukha càng xúc động hơn, nói:
- Anh thử nghĩ, nếu anh không giết tôi thì đêm anh sẽ không ngủ yên giấc, ngày anh sẽ không ăn ngon miệng, chẳng khác gì trên cổ áo anh có một con rận đang bò tới bò lui, trong túi áo anh đang có một cây kim nằm sẵn! - Jamukha bước đến gần Temüjin và đi vòng quành một lượt, nói tiếp - Anh là người đã hoàn thành được sự nghiệp lớn, vậy anh không thể yếu mềm như một người đàn bà. Anh nên biết, nếu tôi bắt được anh thì tôi sẽ xử trí với anh như thế nào? Tôi sẽ giết anh ngay mà không cần suy nghĩ!
Đôi mắt của Temüjin trào lệ. Ông ngước mặt lên nói:
- Nhưng, tôi không nỡ làm như thế!
- Nếu anh thương hại tôi thì anh nên cho tôi chết sớm!
Temüjin buông thõng hai tay, nói qua giọng yếu ớt:
- Thôi được![14]
Đích thân Temüjin chỉ huy lính cận vệ khesig xử tử Jamukha bằng cách trùm lên người ông ta một chiếc túi da và thắt cổ đến chết.
Trang sử bi tráng giữa hai người anh em từ đây khép lại.
Năm 1206, Temüjin triệu tập toàn bộ các thủ lĩnh bộ lạc, các Noyan[15] về mở Đại hội Kurultai[16], chính thức thành lập Yehe Mongul Ulus (nước Đại Mongol), lên ngôi Đại hãn với danh xưng Chinghiz Hãn.
Hàn Giang



[1] 33,000,000 km². Trong lịch sử loài người, Đại Mongol là quốc gia có diện tích lớn thứ 2, sau British Empire. Tuy nhiên, diện tích này không tính khu vực Siber (nay là Siberia) lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng trực tiếp của Đế chế Mongol nhưng không được tuyên bố chính thức.
[2] 110 triệu dân, bằng 25,6% tổng dân số thế giới lúc bấy giờ.
[3] Gua là “người đẹp”, ví dụ Mongoljin Gua = người đẹp Mongol.
[4] Mongol thống nhất.
[5] Nhân vật này được cho là “Người phụ nữ của tộc Jarchuud Adankhan thuộc bộ tộc Uriankhai (Jarchuud Adankhan Uriankhajin, “jin” là hậu tố giống cái)”.
[6] Trời xanh, trong tiếng Mongol là Tengri, chính là vị thần tối cao trong tín ngưỡng của các bộ tộc thảo nguyên. Với nếp sống du mục, người thảo nguyên không xây dựng đền đài để thờ phụng Tengri mà họ luôn bày tỏ niềm tin và sự thần phục ở bất kỳ nơi đâu họ muốn.
[7] Theo Bí sử Mongol, cha của Temüjin có hai vợ. Bà Hoelun sinh ra Temüjin, Qasar, Khajiun, Temülin (nữ) và Temüge. Bà Sochigel sinh ra Bekhter và Belgutei. Trừ Bekhter bị bắn chết, 5 người còn lại dù ít nhiều đều góp sức cùng Temüjin xây dựng nên đế chế.
[8] Đây là giai đoạn thiếu dấu tích trong lịch sử. Có người cho rằng Temüjin chỉ bị bắt và giam cầm trong một giai đoạn ngắn nhưng cũng có nhà nghiên cứu cho rằng ông đã bị bắt làm nô lệ trong khoảng thời gian vài năm. Dù sao đi nữa, lúc này Temüjin chưa qua khỏi tuổi 20.
[9] Theo Bí sử Mongol, Jurchedei là con cả của Hotula Hãn. Hotula là em trai của Bartan Baghatur. Vị này là ông nội của Temüjin.
[10] Ulus trong tiếng Mongol nghĩa là quốc gia nằm dưới quyền cai trị của một Hãn. Tùy vị thế của Hãn mà Ulus đó có vị trí tương đương với một công quốc, đại công quốc hay vương quốc v.v. Trong các tài liệu tiếng Việt, đôi khi Ulus được phiên âm thành Ngột-lỗ-tư hoặc được dịch thành Hãn quốc.
Khi Temüjin bắt đầu khởi nghiệp, vùng thảo nguyên đông bắc Á có các đại ulus như: Khereid, Naiman, Merkit, Tartar.
[11] Toghrul là một trong hai thủ lĩnh mạnh nhất vùng đồng cỏ lúc bấy giờ. Ông là anda của cha Temüjin, đồng thời là cha kết nghĩa của Temüjin. Sử sách thường gọi ông là Ong Khan (hay Wang Khan) dựa theo tước vị mà ông được triều đình Jin phong tặng sau khi phối hợp với Temüjin đánh bại bộ tộc Tartar.
[12] Sử sách ghi lại chi tiết con gái của Temüjin là Alakhai Beki được gả sang bộ tộc Onggud nhưng chồng nàng là Ala-Qush hay con trai ông này là Buyan-Shiban thì không ai dám chắc cả. Chỉ biết rằng, sau khi người chồng đầu tiên bị giết trong một cuộc phản loạn thì Alakhai còn lấy thêm hai đời chồng nữa – đều là con riêng của chồng trước. Alakhai  là người cai trị thực sự ở Onggud và chính nàng đã biến địa bàn của Onggud thành một căn cứ địa vô cùng quan trọng cho các lần cử binh đánh nước Jin sau này của Temüjin.
[13] Về sau Kuchlug chạy sang nương nhờ Hãn quốc Kara-Khitan, lấy công chúa nước này, cướp ngôi, thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo, đàn áp dân chúng Islam. Cuối cùng, Kuchlug bị quân Mongol bao vây và bị cư dân trong thành giết chết.
[14] Tất cả các đoạn trích đều lấy từ tác phẩm Thành-cát-tư Hãn của Chu Diệu Đình và Du Trí Tiên.
[15] Quý tộc.
[16] Kurultai là tổ chức quyền lực phổ biến trong các sắc dân du mục ở thảo nguyên Mongol. Kurultai là một đại hội tập hợp các thủ lĩnh bộ lạc, các quý tộc có uy tín và hoạt động tương tự như Viện Nguyên lão của Cộng hòa La-mã (Roman Senate).

No comments:

Post a Comment