Trong buổi
bình minh của nền văn minh Trung Quốc, chưa có phát minh văn tự, người ta thắt
nút dây
(kết thằng 結繩 ) để ghi nhớ sự việc rồi sau mới đổi thành nét khắc
vạch (thư khế 書契 ) trên thẻ tre (trúc giản 竹簡 ), xương
thú (thú cốt 獸骨 ), mai rùa (quy giáp 龜甲), tiếp theo là thời kỳ dùng hình vẽ, ký hiệu. Sau
cùng là chữ viết. Từ thời kỳ thư khế về sau, có lẽ đã bắt đầu xuất hiện một thứ
văn cụ là tiền thân của cây bút lông ngày nay. Theo thuyết của Léon Wieger thì
vào đời Tần, Trình Mạc 程邈 chế bút bằng que gỗ dập tưa ở đầu. Người ta chấm bút
vào sơn đen rồi viết trên vải lụa. Về sau bút gỗ được cải tiến thành bút lông
(mao bút).
Sự
phát minh bút lông cũng như các văn cụ khác như mực (mặc 墨 ), giấy
(chỉ 紙 ), nghiên mực (nghiễn 硯) mà người Trung Quốc quen gọi là văn phòng tứ bảo 文房四寶 giữ vai trò quan trọng
trong việc truyền bá văn hóa, truyền thụ tri thức, sáng tạo nghệ thuật. Cây bút
lông hoàn toàn khác hẳn dụng cụ viết ở các nước khác, bởi vì ở các nước khác có
sự phân biệt rõ dụng cụ viết (bút) và dụng cụ vẽ (cọ) còn ở Trung Quốc thì
không. Bút lông kiêm luôn hai chức năng viết và vẽ. Môn thư pháp (calligraphy)
từ lâu vốn được xem là loại hình nghệ thuật đặc biệt. Thư pháp gia, tức nhà
viết chữ đẹp, vẫn được coi trọng như họa gia.
![]() |
| Một số vật phẩm thuộc văn phòng tứ bảo (bút, mực, nghiên) được bảo quản trong tráp cùng với các vật phẩm khác (ấn, giá gác bút, chén nước) |
Nói chung,
người ta cho rằng Mông Điềm 蒙恬 (một đại tướng nhà Tần) chế tạo bút lông, Thái
Luân 蔡倫 (đời Tiền Hán) chế tạo giấy và Hình Di 邢夷 (đời Hán) chế tạo mực. Trong
quyển Thiên Tự Văn của Chu Hưng Tự có câu: «Điềm bút Luân chỉ.» 恬筆倫紙 (Mông
Điềm tạo bút, Thái Luân tạo giấy). Thực ra, không phải Mông Điềm phát minh bút
lông, bởi lẽ các cổ vật khai quật được – mà các nhà khảo cổ cho rằng có trước
thời đại Mông Điềm trên ngàn năm – chứng tỏ cổ nhân đã biết dùng bút. Trên
những mảnh xương trinh bốc (oracle bones) khai quật được tại An Dương (Hà Nam) có ghi những nét chữ do nét bút
lông chứ không phải nét khắc vạch. Hơn nữa, trong Sử Ký của
Tư Mã Thiên nơi tiểu truyện của Mông Điềm không có đề cập việc phát minh bút lông.
Trước
đời Tần, cây bút lông gọi là duật 聿;
sau đời Tần, chữ duật được
thêm bộ trúc 竹
và gọi là bút 筆.
Sự thay đổi này có ghi trong quyển Cổ
Kim Chú 古今注: Thời xưa cây bút làm
bằng gỗ, về sau cán bút bằng gỗ nhưng đầu có gắn búp lông. Lõi bút lông bằng
lông nai và bọc bên ngoài bằng lông dê. Đến thời Mông Điềm, cán gỗ được thay
bằng cán trúc và búp lông được làm bằng lông thỏ. Quyển Thuyết Văn Giải Tự có ghi: «Người nước Sở gọi nó là duật,
người nước Ngô gọi là bất luật,
người nước Yên gọi là phất, người
nước Tần gọi là bút.» 楚謂之聿吳謂之不律燕謂之弗秦謂之筆
(Sở vị duật, Ngô nhân vị chi bất luật,
Yên vị chi phất, Tần vị chi bút.)
![]() |
| Bút lông Ảnh: Shuttlestock |
Quyển Bút Kinh 筆經
của Vương Hi Chi 王羲之 (303-370) có nói đến việc các quan chức nhà Hán cống nạp
triều đình lông thỏ để làm bút. Tác giả ngợi khen lông thỏ của nước Triệu là
loại cực phẩm. Điều này cho thấy việc sử dụng bút lông thỏ rất được ưa chuộng
và phổ biến vào đời Hán. Tuy tác giả không nói cán bút bằng vật liệu gì nhưng
căn cứ trên mặt chữ, chữ duật được thay bằng chữ bút chứng
tỏ việc lấy trúc làm cán bút quả là rất phổ biến vậy.
Vào khoảng
năm 1970, các cây bút được khai quật tại Cam Túc được giám định có vào đời Hán,
và hình dáng giống cây bút lông ngày nay. Trong Bảo tàng Viện Hoàng cung Quốc gia
(National Palace Museum) tại Đài Loan hiện đang bảo tồn một bộ sưu tập bút lông
đời Thanh, trong đó có một số bút dùng trong triều Càn Long (1736-1795), lẽ
đương nhiên đó là những cây bút thượng hảo hạng.
Hồ
Châu là địa phương nổi tiếng về chế tạo bút. Khi chế tạo bút, người ta thường
dùng lông thỏ, lông dê, lông chó sói hoặc kết hợp các thứ lông này theo một tỉ
lệ tương xứng để bút có được những hiệu quả khác nhau. Cho đến nay, lông thỏ
tốt nhất không đâu bằng Trung Sơn. Do độ cứng mềm của từng loại lông và do phạm
vi sử dụng của bút, người ta phân biệt hai loại chánh: nhóm bút lông mềm (nhuyễn
hào bút) và nhóm bút lông cứng (ngạnh hào bút). Mỗi nhóm gồm nhiều loại khác
nhau và có đủ cỡ đại / trung / tiểu.
1.
Nhóm bút lông mềm (nhuyễn bút 軟筆) chủ yếu làm bằng lông dê gồm có:
* Đề bút 提筆 (cũng gọi là đẩu bút 斗筆): loại bút cực lớn, các thư pháp gia thường dùng
viết đại tự, các họa gia ít dùng.
* Bạch vân bút 白雲筆: bút làm bằng lông dê và một ít lông cứng. Sự tiện
dụng của bút là tính cương nhu, có thể vẽ trên thục chỉ (giấy đã phèn rồi) hoặc
trên lụa. Rất thích hợp vẽ những hoa mềm mại. Bút có ba cỡ.
* Nhiễm bút 染筆, Đài bút 苔筆, Trước sắc
bút 著色筆: ba loại này làm bằng
lông dê, dùng tô màu hay chấm những điểm rêu. Bút có ba cỡ.
* Bạch khuê
bút 白圭筆: dùng vẽ đường nét trên
lụa hoặc thục chỉ. Bút có ba cỡ.
* Bài bút 排筆: nhiều cây bút ghép lại như chiếc bè, dùng để quét
những mảng màu lớn.
2.
Nhóm bút lông cứng (ngạnh bút 硬筆) gồm có:
* Đề bút 提筆: bút cực lớn bằng lông cứng, người ta ít dùng.
* Lan trúc bút 蘭竹筆: bút bằng lông sói hoặc lông chồn (lông sói cứng
hơn lông chồn một chút), dùng vẽ lan, trúc hoặc những nét thô lớn, cũng có thể
dùng để vẽ nếp nhăn y phục. Bút có ba cỡ.
* Thư hoạ bút 書畫筆: bút được dùng nhiều nhất vì thích hợp viết chữ
cũng như vẽ đủ loại: nhân vật, sơn thủy, hoa điểu. Bút có ba cỡ.
* Linh mao hoạ
bút 翎毛畫筆: dùng vẽ lông chim. Bút
có ba cỡ.
* Điểm mai bút 點梅筆, Diệp cân bút 葉筋筆, Lang khuê bút 狼圭筆, v.v...: nói chung đây là những bút nhỏ lông cứng bằng lông sói,
dùng vẽ những đường nét nhỏ như điểm hoa mai, vẽ gân lá...
Phạm
vi sử dụng bút cũng khác nhau: khi thấm màu hay tô màu dùng bút mềm lông dê,
khi vẽ đường nét dùng bút cứng lông sói. Đối với giấy hay lụa tùy theo thô hay
mịn mà dùng bút lông cứng hay mềm. Giấy vẽ có phèn rồi gọi là thục chỉ (giấy
chín), giấy vẽ chưa phèn gọi là sinh
chỉ (giấy sống.) Khi vẽ sinh chỉ
dùng bút lông cứng khi vẽ thục chỉ dùng bút lông mềm. Đối với lụa, vì trước khi
vẽ cần phải phèn qua nên theo nguyên tắc phải dùng bút lông mềm hoặc bút làm
bằng cả hai thứ lông cứng và mềm gọi là kiêm hào bút.
Bút
dùng lâu ngày trở nên tưa cùn gọi là thoái bút 退筆 mà ta không nên vất bỏ vì nó rất tuyệt diệu khi
viết chữ thảo. Giới hội họa có câu: «Họa gia vô khí bút.» 畫家無棄筆 (Người họa sĩ
không bao giờ ném bỏ bút cũ). Một họa gia đời Thanh là Trách Lãng 迮朗 trong
quyển Họa sự Vi ngôn 畫事微言 có nói:
«Bút lông cứng để vẽ đường nét, bút lông mềm để tô màu, bút mới để vẽ những nét
công phu tỉ mỉ (công bút), bút cũ để mô tả tượng trưng theo lối tả ý (ý bút),
bút lông cứng để vẽ chi tiết, bút lông mềm để quét màu, bút lông cứng đầu nhọn
để vẽ gân lá, bút cũ lông cứng để chấm những điểm rêu, bút lớn lông mềm để quét
mực loãng, bút cũ lông mềm để quét những mảng màu nhạt mỏng.» 鉤勒用硬筆著色用軟筆工細用新筆寫意用退筆界畫用硬筆畫染用軟筆鉤筋用硬尖筆點苔用硬退筆潑墨用大軟筆淡色用軟退筆
(Câu lặc dụng ngạnh bút, trứ sắc dụng nhuyễn bút, công tế dụng tân bút, tả ý
dụng thoái bút, giới họa dụng ngạnh bút, họa nhiễm dụng nhuyễn bút, câu cân
dụng ngạnh tiêm bút, điểm đài dụng ngạnh thoái bút, bát mặc dụng đại nhuyễn
bút, đạm sắc dụng nhuyễn thoái bút).
Kỹ thuật
cầm bút cũng thay đổi
khác nhau:
* Nếu chỉ
viết chữ hoặc tỉa những đường nét nhỏ, mảnh, tỉ mỉ, cầm bút như sau: quản bút
được giữ ở hai vị trí: a/ giữa đốt
thứ nhất ngón trỏ và đầu ngón cái, b/
giữa hai đốt đầu của ngón giữa và áp út. (Xem hình 1)
* Nếu
vị trí a cố định, thì vị trí b có thể di
động tới lui với sự điều khiển của ngón giữa và ngón áp út. (Xem hình 2 và 3)
* Nếu
vị trí a di động theo sự điều khiển của cánh tay, thì vị trí b có hai
chuyển động: một là của riêng b, một
là theo di động của a.
Như
vậy ngọn bút di chuyển trên mặt giấy lụa vô cùng linh hoạt. Nếu đầu ngọn bút di
động trên một diện tích tương đối nhỏ, ta vận động cổ tay. Nếu trên diện tích
lớn, ta vận động cả cánh tay. Nếu chỉ để vẽ, cầm bút như sau: bút được giữ giữa
đầu ngón cái và các đầu ngón còn lại. Lối cầm bút này rất tiện lợi vì đầu bút
có thể di động theo mọi chiều hướng theo sự điều khiển của ngón tay, cổ tay và
cánh tay, sự ảo diệu của lối cầm bút này là nó có thể biến thể như hình sau:
Lối cầm bút như vậy gần giống lối cầm thứ nhất nhưng hiệu quả cao hơn vì bút có
thể đứng, nghiêng, nằm. Đặc biệt ở thế nằm, búp lông có hai chuyển động: hoặc
theo chiều dọc thân bút (a) hoặc tạt hai bên (b). (Hình 4) Nếu lông bút hơi khô
mực hay khô màu, nó thể hiện được những vết rạn nứt như sớ gỗ, sớ đá, rất thích
hợp để vẽ thân cây, núi và đá.
Ngoài
ra, vị trí bàn tay trên cán bút cũng tạo hiệu quả khác nhau vì bàn tay gần búp lông và bàn tay ở cuối cán bút tạo
những lực mạnh yếu khác nhau.
Trong cách vận dụng bút, người ta thường dùng những thuật ngữ như: Ức 抑 (nhấn xuống), dương 揚 (nâng lên), đốn 頓 (dè dặt), tỏa 挫 (hạ xuống), trì 遲 (chậm trễ), tốc 速 (nhanh), hoãn 緩 (thong thả), khẩn 緊 (gấp gáp), khinh 輕 (nhẹ tay), trọng 重 (nặng, mạnh tay), lập 立 (bút đứng thẳng), ngọa 臥 (bút nằm), sát 擦 (chà quét), điểm 點 (chấm bút), nhiễm 染 (tô màu)... Những hiệu quả tạo ra như: Thoán 皴 (tạo vết răn nứt), can 干 (khô), thấp 濕 (ướt át), nồng 濃 (đậm đà), đạm 淡 (nhạt), nhung 茸 (mơn mởn như chồi non), trám (chấm giọt), thực 實 (thực), hư 虛 (hư ảo), tiêm (nhọn), thốc 禿 (trơ trụi), tàng 藏 (ẩn kín), lộ 露 (phơi bày), thô 粗 (thô), tế 細 (nhỏ, mảnh mai), nhuyễn 軟 (mềm), ngạnh 硬 (cứng), âm 陰 (tối), dương 陽 (sáng), hướng 向 (tới), bối 背 (sau lưng), hậu 厚 (dày), bạc 薄 (mỏng)...
Trong cách vận dụng bút, người ta thường dùng những thuật ngữ như: Ức 抑 (nhấn xuống), dương 揚 (nâng lên), đốn 頓 (dè dặt), tỏa 挫 (hạ xuống), trì 遲 (chậm trễ), tốc 速 (nhanh), hoãn 緩 (thong thả), khẩn 緊 (gấp gáp), khinh 輕 (nhẹ tay), trọng 重 (nặng, mạnh tay), lập 立 (bút đứng thẳng), ngọa 臥 (bút nằm), sát 擦 (chà quét), điểm 點 (chấm bút), nhiễm 染 (tô màu)... Những hiệu quả tạo ra như: Thoán 皴 (tạo vết răn nứt), can 干 (khô), thấp 濕 (ướt át), nồng 濃 (đậm đà), đạm 淡 (nhạt), nhung 茸 (mơn mởn như chồi non), trám (chấm giọt), thực 實 (thực), hư 虛 (hư ảo), tiêm (nhọn), thốc 禿 (trơ trụi), tàng 藏 (ẩn kín), lộ 露 (phơi bày), thô 粗 (thô), tế 細 (nhỏ, mảnh mai), nhuyễn 軟 (mềm), ngạnh 硬 (cứng), âm 陰 (tối), dương 陽 (sáng), hướng 向 (tới), bối 背 (sau lưng), hậu 厚 (dày), bạc 薄 (mỏng)...
Một
khái niệm khác khi chấp bút đó là khí bút. Tô Đông Pha, một nhà thi họa và chính khách đời Tống, có lần tán
thưởng thư pháp của Nhược Quỳ: «Chữ viết tiêu sơ như mưa bay, phát tán một cách
tự nhiên mà không chút nào cẩu thả.» Rõ ràng chỉ khi nào người nghệ sĩ hoàn
toàn đắm mình trong sự sáng tạo nghệ thuật thì mới đạt được hiệu quả này. Có
thể gọi đây là hiện tượng cảm ứng. Người viết cảm được sự biến động của tự dạng
trong tâm. Khi sự cảm nhận này hội đủ rồi thì người nghệ sĩ cầm bút viết ngay
một cách đúng mực và thông suốt không đứt đoạn. Thần khí của chữ phóng phát từ
tâm tư ứng hiện lên mặt giấy. Nét bút trở nên sống động, linh hoạt và có thần
khí. Ta có thể lấy ẩn dụ ngón tay chỉ trăng: Người sơ cơ phải lệ thuộc vào văn
cụ, dẫu có công phu, nét bút có thể đẹp nhưng không có thần vì thần khí chỉ trụ
ở ngón tay. Còn đối với người lão luyện, ngọn bút như một bộ phận thân thể nối
liền với bàn tay. Trong con mắt người nghệ sĩ bậc thầy, không có «ngón tay»,
chỉ có «mặt trăng» mà thôi. Nghĩa là không ngọn bút, chỉ có cái thần khí của
chữ hiển hiện trên giấy, lụa.
Đại sư
D.T. Suzuki có đề cập vấn đề này ở bài luận về Zen và hội họa, trong quyển Zen Buddhism: «Một nét khu biệt khác của mặc họa
(Sumiye) chính là sự nỗ lực chụp bắt cái Thần đang lúc nó vận động. Vạn vật
luôn vận hành, không có gì tĩnh lặng trong bản chất của nó. Khi bạn nghĩ rằng
bạn đang giữ yên được nó thì nó trượt khỏi tay bạn rồi. Bởi vì trong cái khoảnh
khắc mà bạn giữ nó, nó không còn sự sống nữa. Nó đã chết. Nhưng mặc họa cố gắng
bắt giữ sự vật cùng với sức sống của nó, một điều cơ hồ không thể đạt được.
Vâng, sự nỗ lực của người nghệ sĩ muốn thể hiện một vật thể sống động trên
trang giấy dường như bất khả thi, nhưng người nghệ sĩ có thể đạt được ý muốn
này ở một giới hạn nào đó nếu mỗi nét bút đều phóng phát trực tiếp từ cái thần
khí nội tại, không bị ngoại giới và tạp niệm ngăn trở. Trong trường hợp này
ngọn bút chính là cánh tay vươn dài ra. Hơn thế nữa, nó chính là Thần khí của
nghệ, sĩ, thần khí này ứng hiện trong từng nét bút trên mặt giấy. Khi hoàn tất,
bức mặc họa chính là một thực thể sống, hoàn bị và không hề là bản sao của bất
kỳ sự vật nào.»
Cây bút
lông, một nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của người Trung Quốc, suốt mấy
ngàn năm phát triển từ một que gỗ thô sơ thành một cây bút lông xinh xắn ảo
dụng, đã chứng tỏ óc thông minh sáng tạo của dân tộc này. Các nước đồng văn hóa
với Trung Quốc như Việt Nam, Nhật, Triều Tiên cũng từng sử dụng bút lông. Nhưng
trong thời đại tân tiến hiện nay, có nhiều loại bút khác tiện lợi hơn đã thay
thế bút lông. Cây bút lông chỉ còn đắc dụng trong lĩnh vực nghệ thuật như thư
pháp và hội họa mà thôi.
Lê Anh Minh







No comments:
Post a Comment