Ỷ Lan lập mưu vu cho Lê Văn Thịnh đội lốt hổ giết vua trên hồ Dâm Đàm
và cái chết của Lê Văn Thịnh là kết quả của cuộc chiến giữa Nho giáo (người đại
diện là Thái sư Lê Văn Thịnh) và Phật giáo (đại diện là Nguyên phi Ỷ Lan đang
nắm giữ vương quyền).
Tôi không phải là nhà sử học, nhưng rất thích đọc sách lịch sử. Thuở
nhỏ, bố tôi dạy: Văn là người. Sử là gốc. Lớn lên, tôi thấy ngành Giáo dục Cuba
coi môn Lịch sử quan trọng như môn Toán, môn Văn.
Còn ở ta thì buồn thay, có không ít thí sinh khi đã trở thành hoa hậu,
người mẫu, ca sĩ lừng danh, vận động viên đoạt huy chương vàng quốc gia,... vậy
mà trong nhiều cuộc thi kiến thức về lịch sử nước nhà, được truyền hình trên TV
khi trả lời đã khiến khán giả đỏ mặt vì ngượng! Thế nên tôi mong muốn, nếu
người nhà mình có đi thi, thì không trả lời ngô nghê như họ.
Nhiều điều tưởng như vô lý, nhưng lại rất thú vị, đều được các nhà sử
học nước ta hiện nay kiến giải. Chỉ có điều, nó nằm trong các tập sách, các
công trình nghiên cứu, mà chẳng mấy ai chịu đọc. Vì lẽ ấy, tôi trích đăng một
vài tư liệu sưu tầm được của các nhà nghiên cứu lịch sử, ngõ hầu giúp bạn trẻ
định hướng đúng tìm về cội nguồn. Đây chỉ là một cách tiếp cận, một cách học
lịch sử thật sâu sắc và hứng thú. Nếu có gì chưa đúng, xin được quý bạn đọc chỉ
giáo.
Đỗ Thích có giết Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn?
"Đại Việt sử ký toàn thư" của sử gia Lê Văn Hưu ghi: "Đỗ
Thích đêm nằm trên cầu bỗng thấy sao rơi vào miệng, cho là điềm tốt, bèn nảy ra
ý định giết vua".
Một màn kịch được dàn dựng rằng, sau khi giết hai cha con Đinh Tiên
Hoàng, Đỗ Thích sợ trốn lên máng nước chịu đói, chịu khát. Bất chợt trời mưa,
Đỗ Thích giơ tay hứng nước bị lộ, bị quân lính bắt trói, băm nát thành muôn
mảnh".
Thật vô lý. Vì Đỗ Thích là cận vệ gần gũi nhà vua. Khi bị Nam Tấn Vương
(Ngô Xương Văn) đuổi, Đỗ Thích cõng Đinh Bộ Lĩnh chạy trốn. Nghĩa là tình vua
tôi đã được xác lập từ lúc nguy nan.
Lại nữa, tại sao Đỗ Thích chỉ giết Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn mà không
giết nốt cả Đinh Toàn? Vì Đinh Toàn sống, tất sẽ nối ngôi vua cha và có quyền
tru di tam tộc Đỗ Thích?
Vậy sự thật ra sao? Đó chính là âm mưu của Dương Thị Nga (mà giới nghệ
sỹ hiện đại gọi là Thái hậu Dương Vân Nga) và Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn.
Dương Thị Nga là con gái Dương Tam Kha (anh vợ Ngô Quyền) cháu Dương
Đình Nghệ (bố vợ Ngô Quyền) quê Thanh Hóa.
Bà qua 3 đời chồng:
- Đời chồng thứ nhất, lấy Ngô Xương Văn (con thứ hai của Ngô Quyền),
không có con.
- Đời chồng thứ hai, thời kỳ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, đã lọt
vào mắt bà. Đúng ra là Dương Tam Kha chủ động gả con gái Dương Thị Nga (lần thứ
hai) cho Đinh Bộ Lĩnh vì nhìn thấy trước thế lực và triển vọng của Đinh Bộ
Lĩnh. Vả lại, trước kia, bố Đinh Bộ Lĩnh (là Đinh Công Trứ) cũng là tướng của
Dương Đình Nghệ (bố Dương Tam Kha). Hai nhà kết thông gia vừa môn đăng hộ đối,
vừa có thế lực. Mặt khác, Đinh Bộ Lĩnh cũng muốn hòa hiếu, chứ không muốn đánh
Ngô Nhật Khánh.
Sau này lên ngôi, Dương Thị Nga trở thành Hoàng hậu và đẻ ra Đinh Toàn.
(Đời vợ trước của Đinh Bộ Lĩnh đẻ ra Đinh Liễn).
- Đời chồng thứ ba, lấy Lê Hoàn, vốn là tướng giỏi của Đinh Tiên Hoàng
và được nhà vua thăng tới chức Thập đạo Tướng quân điện tiền đô chỉ huy sứ, nắm
thực quyền quân lực trấn giữ kinh thành, trong khi, "bộ tứ" gắn bó
với vua là Nguyễn Bặc, Đinh Điền chỉ giúp việc ngoại chính.
Dương Thị Nga phải tính nước cờ: Theo truyền thống, nếu Đinh Tiên Hoàng
mất, ngôi báu ắt về tay Đinh Liễn. Trên thực tế, bà không mặn mà với Đinh Tiên
Hoàng, vì Lê Hoàn mới là người vẹn toàn. Và mối tình sâu nặng ấy đã cho ra đời
cậu bé Đinh Toàn (dù mang họ Đinh, nhưng là giọt máu của Lê Hoàn).
Màn kịch ấy lại được đạo diễn bởi Hồng Hiến (vốn là người phương Bắc
làm gián điệp cho quân Tống, lại là quân sư tâm phúc cho Lê Hoàn. Và thế là âm
mưu sát hại bố con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn của Lê Hoàn cùng Dương Thị Nga
đã được thực hiện. Đinh Toàn (con của Dương Thị Nga với Lê Hoàn) mới 6 tuổi
được lập làm vua, và tất nhiên Thái hậu Dương Thị Nga cùng Lê Hoàn nhiếp chính.
Như vậy, việc Lê Hoàn lấy quan hệ "tiền hôn nhân" để bước
tiếp theo đạt mục đích chiếm đoạt ngai vàng đã rõ khi giặc Tống xâm lược nước
ta vào tháng 3 năm 981 (khi thấy bố con Đinh Tiên Hoàng bị giết, triều đình lục
đục, chia rẽ, "bộ tứ" tan rã, Nguyễn Bặc, Đinh Điền bị quy tội làm
gián điệp cho giặc Tống, bị diệt...).
Đương nhiên, về quân sự, Lê Đại Hành (Lê Hoàn) quả là một tài năng phi
thường, dùng binh như thần, đánh đâu thắng đó bảo vệ vững chắc nền độc lập quốc
gia và do vậy, đã cứu được danh dự cho ông nhiều phần.
Tuy vậy, nói cho công bằng, thì cha con vua Đinh cũng tự gây họa cho
mình mà không biết. Ấy là việc Đinh Tiên Hoàng yêu con thứ mà quên con trưởng
(con thứ Đinh Liễn giết Hoàng Thái tử Hạng Lang), tức là cha con vua Đinh đã
tạo nên sơ hở để từ đó người bên ngoài lợi dụng.
Thái sư Lê Văn Thịnh có mưu giết vua Lý Nhân Tông?
"Đại Việt sử ký toàn thư" viết rằng Lê Văn Thịnh làm phép hóa
hổ, định hại vua Lý Nhân Tông ở hồ Dâm Đàm (tức Hồ Tây), dẫn tới việc Lê Văn
Thịnh bị truất chức Thái sư và bị lưu đày tại Thao Giang (Phú Thọ ngày nay).
Trước hết, chúng ta cùng xem xét lại sự nghiệp của Nguyên phi Ỷ Lan,
người trực tiếp gây ra án oan cho Thái sư Lê Văn Thịnh.
Trước khi được tuyển vào cung, tên bà là Lê Thị Mệnh, người làng Thổ
Lỗi, tục gọi là làng Sủi, nay là thôn Thuận Quang, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm,
Hà Nội.
Mùa xuân năm 1061, Lý Thánh Tông sang chùa Dâu để cầu tự, vì vua đã 39
tuổi mà chưa sinh con. Dân chúng đổ ra đón vua nhưng cô Mệnh khi ấy đang cắt
cỏ, lại đứng tựa vào cây lan (vì thế sau này vua gọi là Ỷ Lan - dựa vào cây hoa
lan), mà không ra xem vua.
Chính cái sự độc đáo không giống ai này khiến vua để ý. Vua cho vời cô
gái cắt cỏ tới cật vấn, qua đó phát hiện ra một cô thôn nữ vừa xinh đẹp, vừa
thông minh. Và thế là cô Mệnh lọt vào mắt xanh của nhà vua cùng với 11 cô gái
quê khác.
Sự khác người ấy của cô Mệnh được thể hiện: ngoài sống với vua, thời
gian còn lại rất nhiều, cô dành cho việc học làm hoàng hậu, học làm vua.
Thế là, năm 1069, khi đích thân Lý Thánh Tông cầm quân đi đánh Chiêm
Thành, thì vua đã giao công việc triều chính cho Ỷ Lan "Lưu thủ kinh
sư", trong vòng 5 tháng, chứ không giao việc cho quan Tể tướng Lý Đạo
Thành hoặc các thân vương.
Việc đó hẳn nhà vua có con mắt tinh đời, song thực chất, từng bước Ỷ
Lan muốn thể hiện tài năng, bản lĩnh trị quốc, bình thiên hạ khi mới 20 tuổi. Ỷ
Lan đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tức là có công đầu trong việc
huy động nhân tài vật lực đánh thắng quân Chiêm Thành.
Năm 1075, bà là người lãnh đạo cuộc Bắc phạt, khi phát hiện quân Tống
đang tập trung lương thảo và chiến cụ ở châu Ung, châu Liêm và châu Khiêm chuẩn
bị đánh Đại Việt.
Lúc này, vua Lý Nhân Tông (con bà) mới 9 tuổi, quan Thái sư Lý Đạo
Thành đã ngoài 80 tuổi, lại theo phái chủ hòa, và đang bị Ỷ Lan đày đi trấn giữ
Nghệ An; Lý Thường Kiệt và Tôn Đản thì cầm quân, nhưng Lý Thường Kiệt tuổi đã
cao, mặc cảm về một ông quan "thái giám" còn nặng nề, thế nên, mọi
quyền bính đều nằm trong tay Ỷ Lan.
Muốn bảo đảm cho cuộc Bắc phạt, và tiếp sau đó là chống quân Tống thành
công, Ỷ Lan đã làm được 3 điều (ngoài quyết tâm chiến lược đúng đắn và táo bạo
là đánh quân Tống ngay trên đất Tống):
Thứ nhất, nền cai trị vững chắc, bảo đảm an ninh hậu phương.
Thứ hai, tiếp tế lương thực, thực phẩm đầy đủ và kịp thời cho 10 vạn
tinh binh và 40 vạn người phục vụ trong một cuộc hành quân bí mật, là cực kỳ
tốn kém về sức người và sức của.
Thứ ba, huy động và lãnh đạo được một lực lượng quân và dân binh tham
chiến cực lớn, biết dùng người và bổ sung nhân tài vật lực bảo đảm cho cuộc
kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Tháng Giêng năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, Hoàng Thái tử Càn Đức (Ỷ
Lan sinh được 2 con trai) 7 tuổi lên ngôi, tôn mẹ đẻ làm Hoàng Thái phi, tôn mẹ
Thượng Dương làm Hoàng Thái hậu (bà vợ cả này không có con), cùng buông rèm
nhiếp chính, Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc.
Nói là "cùng" nghe và giải quyết chính sự, nhưng thực chất
quyền hành đều thâu tóm vào tay Ỷ Lan. Vì lợi thế là mẹ đẻ ra vua, Ỷ Lan đã vô
hiệu hóa Hoàng Thái hậu, bằng cách bắt tạm giam "vợ cả vua cùng 76 thị nữ
vào cung cấm, rồi bức chết chôn theo lăng Lý Thánh Tông”. Đó là tội "giết
người hàng loạt" của Ỷ Lan.
Cùng trong đợt thanh trừng này, Thái sư Lý Đạo Thành bị hạ bệ từ quan
Tể tướng (chức quan cao nhất trong triều đình) xuống làm Tổng trấn đi cai quản
châu Nghệ An.
Chỉ sau đó 1 năm, nhận thấy Lý Đạo Thành rất mực trung thành với Hoàng
gia, qua việc thờ cúng Lý Thánh Tông, nên Ỷ Lan theo ý con, mới thăng lại chức
Thái phó cho ông, và mời ông về Kinh đô giúp nội trị, khi quân ta Bắc phạt.
Về Lý Thường Kiệt cũng vậy. Ỷ Lan biết rõ tài năng, đức độ và uy tín
của Lý Thường Kiệt, nhưng không chia sẻ quyền lực, mà chỉ triệt để sử dụng ông
là một vị tướng, trận mạc nối tiếp trận mạc cho tới lúc già vẫn phải cầm quân
đi bình Chiêm, đánh Tống chiến công lừng lẫy, cũng chỉ phong Thái úy (đứng đầu
hàng võ) chứ không phong Thái sư hay Tể tướng.
Về Lê Văn Thịnh, đỗ đầu khoa thi Minh tinh bác học (lúc đó chưa có
trạng nguyên), do Ỷ Lan mở theo đề nghị của Lý Thường Kiệt (bà mở được 2 khóa
thi: Minh tinh bác học và Nho học tam trường). Sau đó, Lê Văn Thịnh được cử vào
dạy Lý Nhân Tông học hành từ nhỏ cho đến khi trưởng thành.
Năm 1084, ông là Thị lang Bộ Binh đi đàm phán với người Tống về biên
giới thắng lợi: Nhà Tống phải trả lại châu Quảng Uyên (phần lớn phía Bắc, Đông
Bắc tỉnh Quảng Ninh bây giờ) bị chiếm trong chiến tranh từ năm 1076.
Năm 1085, khi Ỷ Lan thôi nhiếp chính vì tuổi tác và mải mê đi lo việc
tiếp tục xây cất chùa và lễ chùa, Lê Văn Thịnh mới được thăng chức Thái sư
trông coi công việc triều chính.
Ông là nhà nho tiết tháo, nên không thể không can ngăn Ỷ Lan xâm phạm
nhiều quốc khố trong việc dựng trên 100 ngôi chùa để sám hối tội giết Hoàng
Thái hậu và 76 cung nữ. Vì thế, bà thù ghét và thanh trừng không thương tiếc
bất cứ ai cản trở công việc phát tâm công đức của bà, mà kẻ thù chính là quan
đầu triều Lê Văn Thịnh.
Ỷ Lan lập mưu vu cho Lê Văn Thịnh đội lốt hổ giết vua trên hồ Dâm Đàm
và cái chết của Lê Văn Thịnh là kết quả của cuộc chiến giữa Nho giáo (người đại
diện là Thái sư Lê Văn Thịnh) và Phật giáo (đại diện là Nguyên phi Ỷ Lan đang
nắm giữ vương quyền).
(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn "Nhìn lại lịch
sử" của các nhà sử học Phan Duy Kha, Lã Duy Lan và Đinh Công Vĩ, NXB
VH-TT, 2003)
Theo Lê Trung Đản – Lịch sử Việt Nam
0 bình luận :
Post a Comment