Friday, December 17, 2021

Cuồng "Trư cuồng"

 - Đồ con lợn!

Mấy ai còn xa lạ với câu chửi này và trong truyện cũng xuất hiện một câu chửi như thế của nhân vật chính.

Nhưng có lẽ một câu chưa đủ, tác giả viết hẳn tiểu thuyết hơn 300 trăm trang về lợn - mà số phận của truyện chìm nổi đặc biệt không khác gì cuộc đời người viết. Một cuốn truyện như thế có phải chỉ để chửi lợn qua đó chửi đời, chửi xã hội, hay thực chất lại thể hiện tình yêu day dứt, cuộc đấu tranh dằn vặt không thôi và cả cái nghiệp đã bị buộc vào với cuộc đời này của tác giả?


Ảnh bìa "Chuyện ngõ nghèo" - Nguyễn Xuân Khánh 


Nửa đầu truyện với chất trào phúng rõ rệt khiến mình liên tưởng đến Vũ Trọng Phụng, trong đó có những nét tinh tế như Nguyễn Tuân (dù cách so sánh này chắc hẳn khập khiễng vì cái tinh tế của cụ Tuân đôi khi dễ gây cảm giác cầu kỳ, còn sự tinh tế của cụ Khánh xuất phát từ việc nó phải được mô tả như vậy mới đúng, mới đằm và mới đã, mới khiến người ta ngỡ ngàng nhận ra một lớp nghĩa khác đằng sau con chữ). Khoảng non nửa về cuối truyện lại gợi lên cái hoang lạc, hơi rờn rợn của Hàn Mạc Tử, nhưng khác ở chỗ không gian thơ của thi sĩ đưa ta đến xứ cô độc huyền hoặc còn cụ Khánh thì dù viễn du trong cực thiên thai nhưng vẫn đau đáu những chi tiết đời đến đắm đuối.

Đọc đoạn tự sự của cụ trước truyện thì thấy chính cụ cũng nói rằng mình sẽ viết “không theo kiểu truyền thống”, nghĩa là không bỏ cốt truyện nhưng cốt truyện được lỏng ra, được tản mạn hóa.

Mà văn phong này cũng khó nói là sự tổng hợp của các cao nhân làng văn, có lẽ nó bắt đầu từ ý thức kể chuyện của cụ, hơn nữa sau khi đọc, có thể thấy chất khác biệt khá rõ ràng trong mỗi khúc đã dẫn dắt mình đến những cung bậc cảm xúc thăng trầm khác biệt.

Ban đầu là những câu chuyện giản dị, hết sức đời với cái nhìn trào phúng rất dễ đọc và cười. Ví dụ như chuyện về anh Lân, người cả đời làm lính đã đặt tên những con lợn của mình “sặc mùi thuốc súng” với nào là: Tên Lửa, Lính Thủy Đánh Bộ, nào là Thần Sấm, Thuốc Súng…

Hay lý thuyết của anh Tám Bách Khoa, một giáo viên nuôi lợn ít thôi nhưng lại say mê nghiên cứu về lợn. Anh hùng hồn khẳng định thế này “Ở nước ta, hiện nay, ai nuôi lợn là người đáng quý trọng, bởi vì nuôi lợn là một công việc kiếm sống lương thiện nhất (…) Anh biết không, ngày xưa, nghề dạy học của tôi vẫn được suy tôn là nghề cao quý nhất, lương thiện nhất nhưng thực ra ngày nay những điều đó thay đổi rồi. Có lẽ ta phải cần rộng lượng, bởi vì quan niệm của con người về nghề dạy học đã bị thực tế làm biến đổi, bởi vì trí thức đang dần dần biến thành hàng hóa. Người có trí thức cũng giống bà bán thịt, cô bán gạo, chị bán bách hóa. Một bài toán, một ý tưởng cũng giống như một miếng thịt bò, một cân gạo, một chiếc áo. Thịt tăng giá ư? Gạo tăng giá ư? Vải tăng giá ư? Vậy thì một bài toán đại số của tôi, một bài văn làm mẫu của tôi, một đề thi luyện tủ của tôi cũng phải tăng giá, nếu không các thầy cô sống bằng gì? Đấy, bây giờ người ta lập luận về nghề thầy giáo như vậy đó”.

“Bây giờ” là những năm 1981-1982, khi cụ Khánh viết truyện và đến bây giờ là những năm 2021, chúng ta cũng đã đâu hết tranh cãi về điều này.

Rồi cuộc đối thoại giữa Lân và nhân vật tôi, khi Lân khẳng định “chuồng lợn cũng là một sân khấu đời”. Nghe tức cười quá phải không? Nuôi lợn là nuôi lợn, “tôi” khẳng định “tôi” thích nuôi lợn và “thậm chí… ừ nhỉ, ta có thể biến nghề nuôi lợn thành một nghệ thuật”. Khi “tôi” nói vậy, Lân đã cười ha ha vào mặt “tôi” và bảo rằng đó là một sự “vòng vo”. Lân nói “Khi ta yêu một điều gì, ghét một điều gì, tức là ta đã làm chính trị(…) khi nói không làm chính trị, tức là ta đã tự lừa dối, ta đã hèn nhát lẩn trốn. Anh nói nuôi lợn như một nghệ thuật, tức là anh đã tự phỉnh nịnh, tự coi mình hơn kẻ khác, trong khi đó, thực chất anh đang tôn vinh cho sự vô liêm sỉ, sự nô lệ… chính vì vậy tôi khinh bỉ con Lợn Bò…”

Chuyện con Lợn Bò và “chiến thuật” đấu tranh của nó với đám lợn ỉn cũ trong chuồng nhà ông Hoàng cũng hết sức kịch tính và tinh tế. Tự dưng ta cũng muốn cười ha ha như Lân khi đọc những trường đoạn đó, bởi nó đúng là “sân khấu đời”.

Rồi chuyện ông Hoàng bán hết mọi thứ mà chẳng đủ mua cám cho lợn ăn, đến khi đấu tranh tư tưởng để bán đến những bộ sách quý giá nhất, biến những Hugo, những Vũ Trọng Phụng, Sếchpia, Piranđenlô… thành cám, thành xương cho Lợn Bò nhai “gau gáu” trong con mắt giễu nhại của thằng con cả thì thật sự là cười mà chảy nước mắt.

Đây là trích đoạn hội thoại của cha con họ.

- Bố ạ! Con Lợn Bò nhà ta nhai gau gáu
- Khỉ!… trong bã đậu làm gì có xương
- Trong bã đậu hôm nay có chân ông SêKhốp. Lợn Bò dĩ nhiên phải nhai gau gáu, vì loài lợn thích ăn xương
- Vậy là ngày mai nó sẽ nhai đến cái tay ông SêKhốp và ngày kia…

Sự tinh tế của cụ Khánh cũng khiến mình phục sát đất là ở chỗ mô tả về tình yêu và tình dục. Khi hai vợ chồng ông Hoàng giận nhau, cụ đã viết “Thân xác con người đôn hậu hơn tâm hồn. Nó rộng lượng hơn và bao giờ nó cũng đi đầu trong những cuộc làm lành. Nó là người thợ hóa trang rất tài tình, nó biết khâu lại, xoa kín đi những rách nát đời người (…) Nàng đằm thắm gọi hồn tôi về nhập vào cuộc giao hoan (…)”. Có lẽ là do “gu”, nên mình vẫn luôn thích những cảnh yêu đương vừa đẹp lại vừa gợi thế này thay vì những thứ dữ dội, nặng đô và đôi khi phản cảm mà thời nay người ta bầy ra đầy rẫy.

Hay đoạn nàng Hồ Ly, đẹp đầy ơn phước nhưng xa xôi ảo mộng, như thế giới nội tâm trong trẻo tựa pha lê và vững như tâm ý của con cáo đã tu luyện nhiều lần “một ngàn năm” rồi cũng dần bỏ “tôi” hay bị tước khỏi “tôi”.

“Cảm ơn trời đã ban cho cô gái đó cái tiếng cười tuyệt diệu. Ở chỗ vắng vẻ thì tiếng cười nở rộ ra như những tiếng chuông pha lê. Nó mời mọc tâm hồn ta thư giãn, nó gọi những nụ cười còn lẩn tránh trong ta phải xuất hiện trên đôi môi. Ở chỗ đông người thì tiếng cười đó kết tinh lại thành một mỉm cười, để lộ ra một hàm răng ngọc ngà đều đặn; và tiếng cười vì không thành tiếng, nên đã phải thoát ra bằng những tia mắt long lanh ấm áp”.

Nửa phần sau của truyện, như đã nói khắc họa Hành trình vào Hỗn mang, là cuộc phiêu du của phần hồn, vừa đậm chất suy tưởng lại vừa gắn với những câu chuyện thời xa xưa của “tôi” do đó nhiều triết lý và đôi chỗ nặng nề. Nhưng với những ai đã yêu quý đã cùng khóc cười với “tôi” ở đoạn trước thì hẳn sẽ hiểu được cuộc đấu tranh vật lộn nghẹt thở của “tôi” ở đoạn này.

Cái cấu tứ mà như cụ Khánh nói là “chắc sẽ khiến những nhà phê bình khuôn phép bực bội” đó thực sự vừa khiến ta chấp nhận mạch truyện một cách dễ dàng nhưng cũng mang đến những khúc cua đột ngột, rồi căng thẳng hay thậm chí hoang mang.

Truyện kết bằng cái chết của nhân vật Tám và khá nặng nề. Nó không phải cái kết đáng mong đợi với một truyện mở đầu bằng chất trào phúng rõ rệt như thế. Mình cũng chưa hoàn toàn hài lòng với đoạn cụ giải thích chữ “đồ tể”, nhưng mình tự cho là hiểu được tâm trạng của người viết trong bối cảnh những năm 1981 đó vẫn còn nhiều bức bối và đè nén ra sao. Chính điều đó khiến truyện thấm đẫm cảm xúc, làm mình đọc mà có thể cảm thấy những khi tiếng cười vang lên hay giọt nước mắt đắng cay rơi xuống và cả những uất giận kìm nén chỉ có thể bộc phát qua con chữ…

Trên hết, đó là cả thời kỳ lịch sử sống động được khắc họa qua một giọng văn đa dạng, biến hóa với một chủ đề tưởng như quá tầm thường: nuôi lợn.

Những lời rông dài mà mình viết ra sau khi đọc truyện vẫn còn ngổn ngang cảm xúc, vì vậy thấy chúng thô kệch so với tác phẩm và không thể nói hết cái hay trong văn của cụ Khánh, nhưng vẫn muốn đăng tải, vì trước tiên để ghi lại những điều mình nghĩ và sau đó có chăng ai đồng cảm chút xíu sẽ tìm đọc cuốn này, không phải vì lợi cho nhà văn - người đã khuất bóng, đã trả hết nợ với cuộc đời, với văn chương - mà lợi cho chính người đọc được truyện này vậy.

P.D

#Chuyenngongheo #Trucuong #Nguyenxuankhanh 

Monday, May 4, 2020

Hái sơn tra trên "những bậc thang lên thiên đường"

Mù Cang Chải gây thương nhớ tha thiết cho du khách không chỉ vì ruộng bậc thang kỳ vĩ mà bởi còn có quả táo mèo - hay sơn tra. Tháng 9, tháng 10 hàng năm, hãy thử bước lên những bậc thang giữa ngàn mây để khám phá thêm bao điều kỳ thú quanh loại trái cây tưởng như bình dị này.
Sơn tra “cách bốn quả đồi/ Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng”

Người H’Mông nổi tiếng với việc sinh sống trên những ngọn đồi cao, xa xôi nhưng cây sơn tra còn mọc ở những nơi cách trở gấp bội. Thế mà, giống như cô gái trong bài thơ trên, dù có van chàng trai đừng yêu mình song người chân tình vẫn tới. Người H’Mông cũng tìm đến cây sơn tra với tấm lòng như vậy.

Những quả sơn tra giữa núi rừng Tây Bắc.
Tính từ thị trấn Mù Cang Chải, đi ô tô chưa tới 20km nhưng do đường đèo dốc, chúng tôi phải mất tới cả tiếng đồng hồ mới đến điểm tạm dừng chân. Từ đây, chỉ có những con chiến mã bằng sắt mới có thể đưa tôi đến với ngọn đồi sơn tra ở tít mù tắp đâu đó. Giàng A Sở - người đồng hành với tôi, phác một động tác tay chỉ lên trời, tôi bắt đầu cảm thấy vừa háo hức vừa nghi hoặc: “Liệu mình có thể tận tay hái thứ quả đó không?”
Quả sơn tra đem lại thu nhập cho nhiều người dân nơi đây.
Trên chiếc xe wave mới cóng, chúng tôi bắt đầu hành trình qua “tám vạn chín nghìn” khúc cua - cái cụm từ mà chúng tôi hay nói quá khi làm cái gì đó thật nhiều lần, nhưng ở Háng Gàng, có lẽ nó khá khớp với thực tế. Tôi tranh thủ trò chuyện với Giàng A Sở.

Nhà A Sở có 7 anh em, chia nhau 3 quả đồi sơn tra. Ông bà anh được coi là những người đầu tiên đến khai phá bản Háng Gàng, do đó, họ cũng sở hữu nhiều đồi sơn tra nhất. Theo lời anh Trần Trung Kiên (Trưởng phòng Văn hóa huyện Mù Cang Chải, Yên Bái), sơn tra ở bản này nổi tiếng là ngon nhất vùng.



Thu hoạch sơn tra.
“Vút! Vút…”, tay lái lụa của anh Sở đưa tôi qua những ngọn đồi, những con đường nhỏ bám vào một bên là núi, một bên là vực sâu một cách không do dự, bởi vì anh đã quen từng khúc cua, từng viên đá dọc lối đi. “Khục! Xoẹt xoẹt!” đó là khi chúng tôi gặp ổ gà trên một đoạn đường lầy lội, cứ vết bánh xe sau đi vào vết bánh xe trước, anh Sở vẫn vít ga, hai chân như hai mái chèo để cân bằng và rồi vụt qua đoạn khó. Anh vẫn vui miệng kể, có năm sạt lở, mấy gia đình phải cùng nhau thuê máy xúc lên tận đây, làm lại đường để đi hái quả đấy.

Chí tua di - Ngọt thơm và chua chát

Sau thêm 1 tiếng đồng hồ nữa trên con ngựa sắt, cuối cùng tôi cũng được tận mắt thấy ngọn đồi sơn tra. Quả sơn tra theo cách gọi của người H’Mông là “chí tua di”. Trang Thông tin điện tử Yên Bái cho biết, cây sơn tra phát triển tự nhiên trên những cánh rừng, chiều cao trung bình chừng 7 - 10m, thân gỗ, tán lá rộng. Trong Đông y, sơn tra là một vị thuốc quý.


Sơn tra được hái để bán.
Quý thế nào có lẽ phải có thời gian thẩm định, tôi chỉ biết rằng, mình đã phải lòng cánh rừng trước mặt mất rồi. Những cây sơn tra cao hơn tầm mắt một chút, cành lá xanh điểm xuyến màu đỏ của mùa thu, lúc lỉu những chùm quả vàng nhạt, đu đưa trong gió, nhập vào với đồi núi biêng biếc phía xa tạo thành bức tranh tuyệt tác.

Đi qua những cây sơn tra đầu tiên, tôi cảm thấy mình đang được ướp trong hương thơm ngọt, dịu mát đặc trưng của loại táo này. Toàn bộ thân thể, tâm trí tôi thấm đẫm hương vị sơn tra. Giàng A Sở trèo lên một cây mà anh nói khoảng 10 năm tuổi, vặt một quả trong tầm tay, cắn một miếng, rồi bảo: Đây là cây ăn này, thử đi! Cây nào mà chẳng để ăn, tôi nghĩ thế, nhưng vẫn háo hức cắn cái “rột”. Ồ, hóa ra sơn tra là thế! Đã ăn bao nhiêu trái ở phố, nhưng chưa bao giờ tôi thấy vị ngọt mát thanh tao đến thế, chân răng tứa ra sự thèm thuồng, chưa kịp nhai kỹ hơn thì miếng ngon đã rơi tọt xuống cổ, để lại cái bùi bùi trong khoang miệng. Hẳn là có một chút vị chát, nhưng nó thoảng qua và quyện vào với vị ngọt bùi khiến tôi không còn chú ý tới nó nữa.


Phơi khô sơn tra.
Lúc này tôi mới tỉnh táo trở lại để hỏi anh Sở về cái gọi là “táo ăn”. Người H’Mông sành về táo, họ quan sát và nếm thử, cây nào ngon thì để riêng, ăn sống hoặc làm nước ngọt uống, cây nào vị chát nhiều thì dành ngâm rượu. Táo ăn bao giờ cũng đắt gấp mấy lần táo ngâm. Năm được mùa, táo ăn bán khoảng 20-30 nghìn/kg, táo ngâm chỉ 5-6 nghìn/kg. Năm nay mất mùa, Giàng A Sở lại phấn khởi, vì đồi táo nhà anh không bị chung cái nạn ấy. 1kg táo ăn có giá lên đến 50-60 nghìn, táo ngâm khoảng 15-25 nghìn đồng.

Hái táo thì trèo lên cây mà vặt thôi, nhưng để đem ra thị trấn bán không phải đơn giản. Vẫn con đường ban nãy tôi đi, mỗi chiếc xe sẽ chở được 2-3 bì táo, mỗi bì 50-60kg tùy tay lái. Một ngày, như anh Sở có thể đi 3-4 chuyến, nếu suôn sẻ thì chỉ phải đổ xăng xe và thay dầu mỗi ngày một lần. Còn nếu không suôn sẻ?... Tôi chẳng dám nghĩ tới, nhưng Giàng A Câu, em anh Sở thì thật thà nói: “Đầy tay lái lâu năm vẫn ngã đấy, bị thương, bị chảy máu là bình thường mà!” Chính vì con đường xa xôi và khó khăn như thế, những năm được mùa, cái giá vài nghìn đồng cho 1kg táo không bõ để người ta bất chấp nguy hiểm để đi hái. Nhưng táo thì vẫn chín, vẫn miệt mài tỏa hương thơm khắp những ngọn đồi để rồi rụng đi trong lặng lẽ.



Những quả sơn tra trên đường "xuống núi".
Nghĩ đến đó, bỗng dưng tôi chạnh lòng nhớ lại buổi sáng hôm trước, trong phiên chợ ngay trung tâm thị trấn Mù Cang Chải, bao khách du lịch đã quay lưng bỏ đi, đã ngã giá triệt trong đắc ý. Rồi tôi thấy cũng hợp lý làm sao, khi hết vị ngọt, chí tua di cho ta nuốt thêm một chút chua chát.

Sơn tra có tác dụng tiêu thực chữa đầy bụng, ợ chua, cầm tiêu chảy, hạ huyết áp, cải thiện sức co bóp của tim. Hạt và ruột có nhiều tính năng giảm béo, hạ huyết áp, an thần cân bằng sinh lý và phòng chống tích cực các biến chứng do tăng huyết áp gây ra…Có nhiều cách chế biến, thưởng thức sơn tra như ngâm rượu, làm xi rô, mứt, ô mai, muối xổi…

Điểm chung trong các hướng dẫn chế biến là ngâm nước muối cho bớt chát, đa phần mọi người thích thế - như tôi trước kia. Nhưng bây giờ, tôi tha thiết muốn giữ lại dư vị không mấy dễ chịu đó, như một cách để nhắc mình nhớ về cả rừng chí tua di rơi rụng trong lãng quên lúc được mùa, nhớ về những đôi chân bám núi, những tay lái đã ngã trên đèo, để mang đến cho phố thị thêm một loại đặc sản kỳ thú.


P.Diễm
(Bài đã đăng trên báo Khoa học và Đời sống theo link dưới đây

Thursday, November 7, 2019

Quốc âm tân tự - 國音新字


TÊN GỌI

Quốc âm tân tự (chữ Hán: 國音新字) là một loại chữ viết biểu âm. Tên gọi “Quốc âm tân tự” có nghĩa là chữ ký âm của tiếng nói quốc gia.

[Ở đây có một câu hỏi: Tại sao không phải là “quốc ngữ” mà lại là “quốc âm”? - Jeff]

TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI

Dự thảo Quốc âm tân tự hiện còn hai bản viết tay cổ (mỗi bản có bốn tờ) của cùng một văn bản viết về loại chữ này đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam. Trong văn bản Quốc âm tân tự không có thông tin cho biết ngày tháng năm cụ thể tác phẩm này được viết ra. Căn cứ vào việc trong lời tựa của tác phẩm chữ “華” (hoa) trong tên gọi “中華” (Trung Hoa) đã được tị huý bằng cách bỏ không viết nét cuối của chữ này (nét sổ) thì có thể đoán rằng văn bản này được viết dưới thời vua Thiệu Trị (Mẹ vua Thiệu Trị tên là “Hồ Thị Hoa” 胡氏華). Cuối lời tựa của văn bản có dòng chữ “五星聚斗南城居士阮子書” (Ngũ Tinh Tụ Đẩu Nam thành cư sĩ Nguyễn tử thư). Qua dòng chữ này có thể biết rằng tác giả của Quốc âm tân tự là một cư sĩ mang họ Nguyễn (阮) ở thành Nam Định (南定) có biệt hiệu là Ngũ Tinh Tụ Đẩu (五星聚斗).[9]

NỘI DUNG

Quốc âm tân tự có 22 “cán tự” 幹字 và 110 “chi tự” 枝字. Cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu, chi tự dùng để ghi vần. Mỗi cán tự đều được đặt tên bằng một từ mang vần “ông” có phụ âm đầu là phụ âm đầu mà cán tự đó biểu thị, ví dụ như cán tự biểu thị phụ âm “đ” được đặt tên là “đông”. Quốc âm tân tự không phân biệt “d” và “gi” như chữ quốc ngữ. Có một cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu /ʔ/, cán tự này được đặt tên là “ông”.[10]

Tác giả của Quốc âm tân tự đã dùng bốn nét bút là ngang (一), sổ (丨), chấm (丶), phẩy (丿) (nét phẩy còn có biến thể là “㇏”) để tạo nên các cán tự và chi tự. Không phải chữ đơn nào cũng có đủ bốn nét bút kể, có những chữ đơn chỉ có chứa hai hoặc ba nét bút nhưng dù một chữ đơn có bao nhiêu nét bút thì tổng số nét, không phân biệt loại nét bút, trong chữ đơn đó đều là bốn.[11]

Quốc âm tân tự sử dụng cách phân chia thanh điệu truyền thống, thanh điệu được chia thành bốn loại là “bình” 平, “thướng” 上, “khứ” 去, “nhập” 入. Mỗi loại lại được chia ra thành hai bậc “âm” 陰 và “dương” 陽.[12] Tổng cộng có tám thanh là:[12]

“Âm bình” 陰平: là thanh ngang theo cách gọi ngày nay.
“Dương bình” 陽平: là thanh huyền theo cách gọi ngày nay.
“Âm thướng” 陰上: là thanh hỏi theo cách gọi ngày nay.
“Dương thướng” 陽上: là thanh ngã theo cách gọi ngày nay.
“Âm khứ” 陰去: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương khứ” 陽去: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Âm nhập” 陰入: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
“Dương nhập” 陽入: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.


Các thanh thuộc bậc âm được ghi bằng một dấu nhỏ hình nửa vòng tròn, các thanh thuộc bậc dương được ghi bằng một dấu nhỏ hình vòng tròn. Để biểu thị thanh bình, dấu thanh được đặt bên cạnh “chân trái” của chữ, với thanh thướng dấu thanh được đặt bên canh “vai trái” của chữ, với thanh khứ dấu thanh được đặt bên cạnh “vai phải” của chữ, với thanh nhập dấu thanh được đặt bên cạnh “chân phải” của chữ.[12]

Jeff - Sưu tầm từ wikipedia và tài liệu trôi nổi.

Tuesday, November 8, 2016

Khao khát



Phía bên kia khao khát
Anh đến tự lòng em
Giống như là bóng đêm
Bước ra ngoài ánh sáng

Mấp máy môi thật nhẹ
Gọi tên anh ba lần
Gõ chân xuống nền gạch
Anh có đến hay không

Còn gì mơ màng hơn
Một bóng hình xa vắng
Có chi quặn thắt bằng
Ao ước không thành thực

Phía bên kia khao khát
Là trống trải lòng em
Giống như bóng mãi đêm
Ánh sáng không lối đến.

Băng Hồ. 8/2016

Monday, April 25, 2016

Việt Nam qua mắt giáo sĩ phương Tây: Nhà của người Bắc kỳ


Một số ghi chép dưới đây của nhà truyền giáo G.F.de Marini (1608 - 1682). Ông đã ở Bắc kỳ 14 năm, sau đó cho in cuốn sách về xứ sở này tại Paris năm 1666.


Nhà làm bằng gỗ và rơm
Nhà cửa của người Đàng Ngoài và lối họ xây dựng rất giản dị không được suy nghĩ kỹ càng và không theo một chủ ý gì cả. Bởi thế họ không cần nhờ đến các kiến trúc sư, đến các ông thợ cả vì theo tôi không cần tinh khôn lắm mới dựng được cho mình những cái nhà như thế. Làm gì có những sự chạm trổ tinh vi, những gian nhà đẹp như những lâu đài. Mọi vật đều làm bằng gỗ và rơm. Người dân dựng bốn cái cột hình tròn, được bào đục ít nhiều, lên trên những khối đá tròn và rộng nhiều hay ít dùng làm trụ đỡ vì không thể chôn chân cột xuống đất trừ phi cột ấy làm bằng một thứ gỗ rất hiếm và đắt không mục ngay ở dưới đất. Họ đặt lên trên bốn cái cột đó nhiều miếng gỗ khác; khi nào những người dân túng thiếu này muốn làm nhiều gian nhà, họ dựng thêm nhiều cột, vách, ván hay tre, trát bằng một thứ bột rất nhuyễn màu thiên thanh nhạt.
Nền bằng đất nện kỹ, mái lợp rơm hay rạ. Nhà làm cách xa nhau, xung quanh có hàng rào sậy, có vườn, có ao thả cá - món ăn thường của người nghèo. Giường đặt cách mặt đất chừng hai thước chỉ gồm có một lớp gỗ dài bốn thước lắp với bốn mảnh gỗ, trên đặt giát tre hay một lần lưới đan bằng dây; trên nữa trải chiếu; họ nằm ngủ chẳng có đệm, chẳng có chăn đắp.
Nhà những người giàu có, quan tư cũng ngang mực với đất; nên đến cửa thì ta bước vào nhà ngay. Những nhà này rộng, xây dựng có ngăn nắp và làm bằng vật liệu tốt hơn nhà của thường dân. Trước mặt nhà lối cửa vào có sân rộng nhiều hay ít đủ chứa những người đến nhờ vả hay kêu xin điều gì. Có hành lang lợp và làm theo hình bán nguyệt chạy quanh nhà. Những khung hình tò vò đặt lên những cột gỗ to rất tốt, đối nhau rất đều.
Cửa vào nhà thường dân thấp và bé để bọn trộm cướp khó mang đi những đồ vật chúng lấy được. Cửa ngõ nhà quan thì rộng hơn vì các ngài không sợ gì trộm cướp (chính chúng lại sợ các ngài) và có lính canh giữ luôn luôn. Tuy vậy những nhà quan cũng không có những tấm thảm hay những bức hàng quý giá; chỉ có những thứ chiếu nhỏ bằng cói rất đẹp; nhuộm màu khác nhau, trên có nhiều hình đẹp; của cải để cả vào thóc gạo, người nào có nhiều thưng gạo nhất được coi là giàu có nhất, thành thử khi ta nói ai có nhiều lúa thóc chính ta muốn bảo rằng người ấy rất giàu có, sung túc.
Trong xứ không có đường to, không có phố lát đá và chia ra từng đoạn như bên ta, nhưng nhà cửa cách nhau và rải rác khắp đồng ruộng như tôi đã nói ở trên. Một số đông nhà họp lại thành một làng trong có một nhà công cộng (đình).
Thành Hà Nội
Bây giờ ta sang chuyện hoàng thành để biết sự tráng lệ của kinh kỳ, dù các nước ngoài gọi vắn tắt là kinh đô (La Cour) vì vua thường đóng ở đấy. Dân bản xứ thì đặt tên là Kẻ Chợ, nghĩa là chợ, chợ phiên. Bởi vì, trong xứ có sản vật gì tốt, ngoại quốc có hàng gì đem vào bán, đều đưa đến đây cả, một tháng có hai phiên chợ to, vào ngày mùng một và mười lăm của tuần trăng. Kẻ Chợ chiếm một vùng đồng bằng rất đẹp và rất phì nhiêu, rộng hàng bao nhiêu dặm và đặt trên bờ một con sông phát nguyên từ Trung Quốc. Sông bọc lấy thành thị trong một khuỷu rộng nên việc buôn bán được dễ dàng; thuyền bè luôn đi lại được trên sông; sông còn chia ra nhiều ngành, nhiều sông đào rất có ích cho việc chuyên chở các hàng hóa và làm thuận tiện việc buôn bán các tỉnh ngoài với đô thị.
Người Âu châu nào đến thăm kinh thành (hay Kẻ Chợ tùy theo lối gọi của mỗi người), sẽ thấy nhà cửa ở đấy không phải là những đầu đề để ta ca ngợi, bởi vì nhà cửa cũng không khác nhà cửa những vùng khác trong nước; muốn làm những nhà đẹp hơn, phải tiêu tốn hơn vì đào sâu 2, 3 thước đã thấy nước rồi, muốn tiện lợi mỗi nhà đào một ao nhỏ thả cá, có nước dùng để giặt quần áo, tắm rửa, tưới rau.
Nhà nào cao lắm thì có tầng gác thứ nhất, nhưng trên làm nhiều chỗ cao, phòng khi nước lụt thì rút lên ở. Phố xá không lát đá. Dân gian thiếu chút nữa thì tồng ngồng và bao giờ cũng đi chân không như ở khắp trong xứ. Tuy có chỗ bẩn thỉu và đáng xấu hổ, ta cũng nên công nhận rằng thành này có nhiều chỗ rực rỡ lộng lẫy.
Thành phố có 72 phường phố, mỗi phường rộng bằng một thành phố trung bình bên Ý Đại Lợi ta. 72 phường đầy những thợ cùng người buôn, muốn tránh sự hỗn độn và giúp ta tìm ngay được thức ta cần dùng, ở cửa mỗi phường có một tấm biển đề rõ thứ hàng, tốt hay xấu thành ra ít khi có người (cả người ngoại quốc) bị nhầm về giá hàng, về phẩm hàng tốt hay xấu, về lượng hàng bán đủ hay thiếu. Trên kia tôi đã nói là người ta chở đến đây tất cả các thứ sản vật trong xứ, của ngoại quốc, chở đến nhiều hơn bất cứ nơi nào trong nước. Vì lẽ ấy nên đức vua muốn các hàng hóa ngoại quốc đều ghé lại xứ, và ngài chỉ ưng rằng các tàu bè Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Miên (Campuchia - PV), Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Phi Luật Tân (Philippines - PV), Hà Lan và các nước khác ở Đông phương muốn vào trong xứ phải ngược sông (Nhị Hà), không được đậu bến nào ngoài bến Kẻ Chợ.
G.F.DE MARINI
Nguyễn Trọng Phấn (dịch)
(Theo Thanh niên) 

Hướng dẫn cha mẹ phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em

Tài liệu từ Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em - Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội












(Nguồn http://treem.molisa.gov.vn/SIte/vi-VN/13/406/17779/Default.aspx)

Friday, April 22, 2016

Việt Nam qua mắt giáo sĩ phương Tây: Đất kinh kỳ





 Chân dung giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ảnh: T.L


Với bút danh Thiện Chân, trên Tạp chí Thanh Nghị, từ số 2 năm 1941 đến số cuối cùng năm 1945, dịch giả Nguyễn Trọng Phấn (1900 - 1996), vốn là cán bộ khoa học của Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp tại VN, đã tuyển dịch và giới thiệu những tài liệu về xã hội VN từ thế kỷ XVII do các giáo sĩ phương Tây từng đến VN dưới triều đại vua Lê - chúa Trịnh - chúa Nguyễn ghi chép lại. Các tài liệu này vừa được tập hợp trong cuốn sách Xã hội VN từ thế kỷ XVII (NXB Tổng hợp TP.HCM). Thanh Niên xin trích giới thiệu với độc giả.

Điều làm cho vua xứ Bắc có thế lực khiến các vua lân cận khiếp sợ, là số dân đông vô kể ở bảy trấn dưới quyền vua cai trị, cứ xem số người thường ở Kẻ Chợ là nơi vua lập triều đình thì đủ biết.

Đi ngả nào cũng thấy vướng

Tuy rằng kinh kỳ dài hơn sáu nghìn bộ (1 bộ = 2,125 m, 6.000 bộ = 12,75 km - PV) ngang cũng chừng bấy nhiêu, phố xá rộng rãi, mười hay mười hai cỗ ngựa có thể ung dung đi ngang nhau được, thế mà mỗi tháng hai kỳ - vào rằm, mùng một là ngày dân nghỉ lễ - ta thấy trong tỉnh đông người qua lại khắp mọi phố đến nỗi đi ngả nào cũng thấy vướng. Thành thử người nào cũng bị xô đẩy, bị cản, bắt buộc mất nhiều thì giờ mà chả đi được mấy bước đường.

Do đấy và căn cứ vào vài điều phỏng đoán khác, người ta thường ước dân số kinh kỳ được một triệu người.

Người Bắc có tục ăn trầu là thứ có lợi cho sức khỏe và có vị ngon, bao giờ họ cũng giắt vào thắt lưng một giỏ con hay một bao đầy trầu cau, ra đường gặp bạn bè thì mở ra, rồi sau khi đã chào nhau rất lễ phép, mọi người nhận lấy một miếng trầu têm sẵn của người kia mà ăn. Vì thế trong tỉnh kẻ nào hơi khá giả thì sai đầy tớ sửa sắm thứ quà nhỏ ấy, đem biếu lẫn nhau để tỏ tình thân mật; còn thường dân không có kẻ hầu têm sẵn ở nhà thì đã có tới năm vạn hàng bán trầu lẻ rải rác khắp kinh thành.
Bìa sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII
Nhìn áo lính biết lòng trung thành

Tôi không thấy có gì đáng khen và lạ bằng sự quân lính xứ Bắc đông như thế, đặt dưới quyền lắm tướng như thế, hay hội họp canh gác, xếp hàng ngũ hoặc ở điện nhà vua hoặc ở vùng thôn quê luôn như thế, mà cả giữa những bữa khao nhà vua và các tướng ban cho họ vui cũng không bao giờ ai thấy họ cãi nhau, nói khích nhau, chửi bới khinh miệt nhau mà cũng không bao giờ ai nghe thấy nói đến sự họ đâm chém nhau.

...Tuy ta có thể cho sự điềm đạm ấy là do ở bản tính họ vốn lành, nhưng cũng phải nhận là một phần lớn do ở sự họ tôn kính và sùng bái vua và tướng. Họ gọi vua là thiên tử và sùng bái vua như một đấng thiêng liêng tự trên trời xuống để cai trị họ. Sự sùng bái ấy là căn bản cái tục họ theo hằng năm như sau đây.

Vào quãng tháng sáu nguyệt lịch - thường thường vào tháng tám của ta - vua ban một đạo dụ truyền cho quân tướng đúng ngày đến tuyên thệ tỏ lòng trung thành với vua... Ở các ngả đường chính trong kinh thành người ta thiết lập những hương án bày biện trang hoàng vẫn để thờ thần: Ở chính giữa hương án, đã biên nhời thề bằng chữ to, họ đứng dưới chân hương án cũng nom rõ; hứa sẽ trung với vua và nếu sai lời thì phải trăm nghìn thứ tai nạn... Muốn tránh sự hỗn độn vì lính đến thề rất nhiều và lễ tuyên thệ nội trong một ngày xong, người ta đặt rất nhiều hương án, mỗi hương án dành riêng cho mấy tướng và mấy đội lính, có một quan văn được cử ra thay vua để làm chủ lễ và để sau khi đã tuyên thệ rồi thì phát cho mỗi tên lính một mảnh giấy chứng nhận rằng họ đã thề và đã được nhận vào làm lính nhà vua.

Ai nói tiếng to, rõ ràng, quả quyết thì được chữ minh nghĩa là rõ. Ai nói nhỏ, giọng đục phải chữ bất minh nghĩa không rõ. Còn lại nói giọng vừa phải thì được chữ thuận nghĩa là thường. Những mảnh giấy ấy không phải là vô giá đâu: vì mỗi người lính, đợi lễ tất, đem giấy về cho chủ tướng (ông này thề xong là về ngay) thì được chủ tướng phát cho một chiếc áo vua ban. Ai có chữ minh thì được hạng áo tốt và dài; ai có chữ thuận thì được áo ngắn hơn bằng vải thường; ai phải chữ bất minh thì áo vải xấu và ngắn nữa. Thành ra suốt một năm, người ta trông áo mà biết được người lính nào trung nghĩa, tận tâm và được yêu quý trong hàng ngũ của nhà vua.

Nhà truyền giáo dòng Tên người Pháp Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) tới Trung kỳ năm 1624. Tháng 3.1627 ông được cử ra lập giáo đoàn tại Bắc kỳ; tháng 5.1630 thì bị chúa Trịnh Tráng đuổi ra khỏi xứ Bắc. Alexandre de Rhodes quay về Trung kỳ rồi sang Áo Môn (Ma Cao - Trung Quốc), đầu tháng 2.1639 lại trở về Trung kỳ. Nhưng mấy năm sau chúa Nguyễn Phúc Lan cấm đạo thì Alexandre de Rhodes bị bắt và bị kết án tử hình, nhưng không bị chém mà chỉ bị trục xuất ra khỏi xứ (tháng 7.1645). Vào năm 1651, ông cho in cuốn Từ điển Việt - Bồ - La dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ.









Alexandre de Rhodes
(Theo Thanh niên)